GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


Xem tiếp...
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Năm 2024
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 21
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 021
 Lượt tr.cập 056230194
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Chuyên mục » Giáo Há»™i CG Việt Nam - TÆ° liệu 25.05.2024
Giáo Hội và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1)
09.05.2008

.

GIÁO HỘI

   Trong quá trình hình thành và phát triển đất nÆ°á»›c Việt Nam có sá»± góp phần của nhiều dân tá»™c. Đó là má»™t thành tá»±u tốt đẹp trong sá»± nghiệp chung của đất nÆ°á»›c, trải qua các giai Ä‘oạn của lịch sá»­. Khi Đạo Chúa được truyền bá vào Việt Nam, nhiều dân tá»™c trong cá»™ng đồng dân cÆ° sinh sống trên lãnh thổ cÅ©ng dần dần biết đến Tin Mừng. Tuy các nhà truyền giáo châu Âu đã tiếp xúc vá»›i Việt Nam từ thế ká»· XVI, nhÆ°ng Đạo Chúa chÆ°a được truyền bá cho các dân tá»™c thiểu số ngay vì nhiều nguyên nhân, chẳng hạn nhÆ° sá»± khác biệt ngôn ngữ, Ä‘iều kiện tiếp xúc khó khăn (các cá»™ng đồng dân tá»™c thiểu số (DTTS) chỉ có ít người, cÆ° trú rải rác trong những vùng rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt…). Không kể sá»± tiếp xúc vá»›i các nhóm KhÆ¡ Me hay Chăm từ thế ká»· XVI, việc truyền bá Đạo Chúa cho dân tá»™c ít người dường nhÆ° chỉ bắt đầu sá»›m nhất từ khoảng giữa thế ká»· XIX. Từ đó đến nay, vai trò của các dân tá»™c ít người ngày càng quan trọng hÆ¡n trong Giáo Há»™i, nhất là khi thiên niên ká»· thứ ba bắt đầu và việc há»™i nhập Đạo Chúa vào bối cảnh văn hoá châu Á ngày càng được Giáo Há»™i quan tâm.

   Quả thật, các DTTS là má»™t cánh đồng truyền giáo rá»™ng lá»›n mà cá»™ng Ä‘oàn dân Chúa Việt Nam, trong giai Ä‘oạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế toàn cầu hoá, không thể không quan tâm đến họ. Chúa đến để cứu Ä‘á»™ mọi người trong mọi dân tá»™c, trong đó có các anh chị em DTTS. Họ là những người đã và Ä‘ang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và cùng chia sẻ chung số phận trên đất nÆ°á»›c thân yêu này.

   Đây là lần đầu tiên, các anh chị em tín hữu DTTS có mặt trong cuốn Niên Giám, vá»›i số lượng chÆ°a được thống kê chính xác. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ được nhiều người quan tâm đến để có những bài nghiên cứu sâu xa hÆ¡n và các số liệu đầy đủ hÆ¡n.

   TrÆ°á»›c khi trình bày má»™t số nét về lịch sá»­ phát triển Công giáo nÆ¡i các DTTS, chúng ta nên có cái nhìn khái quát về các cá»™ng đồng dân tá»™c này.



   Theo danh mục các thành phần dân tá»™c Việt Nam được Nhà nÆ°á»›c công nhận, dá»±a vào kết quả Tổng Ä‘iều tra dân số năm 1999, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 54 dân tá»™c, trong đó người Kinh (Việt) chiếm Ä‘a số (84,21%) và 53 dân tá»™c còn lại được xem là những DTTS hay dân tá»™c ít người. Má»—i dân tá»™c này còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau.

BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ DÂN SỐ CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 1999

   Chú thích:

1. Trong tổng số dân, còn phải kể thêm số người Việt Nam ở nước ngoài: 39.532; và người không xác định được: 1.333.

2. Dấu x ở cột (4) có nghĩa là có tín hữu Công giáo trong các dân tộc, nhưng số liệu cụ thể chưa được thống kê.

3. Dấu ? có nghĩa là không rõ.

    Dá»±a vào các tiêu chuẩn về nguồn gốc nhân chủng, đặc Ä‘iểm sinh hoạt và ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã phân loại các dân tá»™c ở Việt Nam theo ba khối ngữ hệ chính: Nam Á (Austroasiatic), Nam Đảo (Mã lai-Đa đảo, Malayo-Polynesian hay Austronesian) và Hán Tạng (Sino-Tibetan).

Trong quá trình hình thành các giáo phận, mỗi giáo phận chịu trách nhiệm truyền giảng Lời Chúa cho một hay nhiều dân tộc thuộc địa bàn hành chính được phân bổ. Ta có thể hình dung một biểu đồ các dân tộc thiểu số thuộc mỗi giáo phận theo thực tế cư trú của họ như biểu đồ trên.

KHỐI NGỮ HỆ NAM Á

I. Nhóm Việt-Mường

   Đây là nhóm dân ngữ (dân tá»™c - ngôn ngữ, ethno-linguistic) quan trọng nhất tại Việt Nam. Nhóm dân ngữ này có trình Ä‘á»™ phát triển kinh tế xã há»™i cao vá»›i số dân chiếm khoảng 89% dân số cả nÆ°á»›c. Nhóm này có 4 dân tá»™c chính: Việt, Mường, Thổ, Chứt. Không kể dân tá»™c Việt (Kinh) chiếm Ä‘a số, cÆ° ngụ rải rác trên các vùng lãnh thổ hiện nay, 3 dân tá»™c còn lại là thiểu số.

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. Mường (tên gọi khác: Mol, Mul, Mọi, Mọi Bi, Ao Tá, Ậu Ta): cư ngụ ở các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Yên Bái, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An và một số tỉnh khác, như Đăklăk, Lâm Đồng; thuộc các giáo phận Hà Nội, Hưng Hoá, Phát Diệm, Thanh Hoá, Vinh.

2. Thổ (Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng, Con Kha, Xá Lá Vàng): cư trú ở tỉnh Nghệ An (huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Tương Dương, Con Cuông) và Thanh Hoá; thuộc giáo phận Vinh và Thanh Hoá.

3. Chứt (Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem): cư trú tại các tỉnh Quảng Bình (huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá) và Hà Tĩnh (huyện Hương Khê); thuộc giáo phận Vinh và Thanh Hoá.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Đời sống chủ yếu của nhóm Việt-Mường là canh tác lúa nÆ°á»›c trên đồng ruá»™ng, lúa khô và các loại hoa màu trên nÆ°Æ¡ng rẫy, vá»›i kỹ thuật khá cao, năng suất cây trồng ổn định. Các sinh hoạt kinh tế khác còn có chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề thủ công gia đình. Người Mường có nghề dệt thổ cẩm tạo ra má»™t mặt hàng nhiều màu sắc, vá»›i nét hoa văn Ä‘á»™c đáo, được nhiều dân tá»™c chung quanh Æ°a thích. Sinh hoạt kinh tế này mang tính cách tá»± cung tá»± cấp.

Xã hội Việt-Mường có sự phân hoá giai cấp rõ nét, nhưng tính chất cộng đồng vẫn được bảo lưu trong các sinh hoạt.

   Nhóm Việt-Mường theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình. Người Mường cÅ©ng thờ cúng “Thành Hoàng” trong các đình làng. Họ cÅ©ng có những tập tục kiêng cữ, lá»… nghi nông nghiệp mang tính chất Ä‘a thần, sùng bái vật tổ (totem). Công giáo và Phật giáo đều có những ảnh hưởng đối vá»›i nhóm Việt Mường này.

   Kho tàng văn học dân gian Việt Mường khá phong phú vá»›i các thể loại truyện thÆ¡, ca dao, tục ngữ, dân ca, lá»… ca, truyền thuyết. Nhiều nhạc cụ cùng vá»›i các vÅ© Ä‘iệu dân gian Mường Ä‘á»™c đáo được nhiều nhà nghiên cứu sÆ°u tầm biên soạn.

II. Nhóm Môn-Khơ Me: Nhóm dân ngữ này gồm có 21 dân tộc:

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

Lần lượt từ Bắc xuống Nam ta có:

1. Khơ Mú (Kmụ, Kưm Mụ, Xá Cẩu, Mứn Xen, Khạ Klẩu, Pu Thềnh, Tềnh, Tày Hạy), cư trú tại Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh; thuộc giáo phận Hưng Hoá, Hà Nội, Vinh.

2. Xinh Mun (Xá Puộc, Pnạ), cư trú tại Sơn La, Lai Châu; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

3. Kháng (Háng, Brển, Xá, Khao, Xá Súa, Xá Dón, Xá Dẩng, Xá Hốc, Xá Ái, Xá Bung, Quảng Lâm), cư trú tại Lai Châu, Sơn La; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

4. Mảng (Mảng Ư, Xá Mảng, Niểng O, Xá Bá O), cư trú tại Lai Châu; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

5. Ơ Đu (Tày Hạt), cư trú tại Nghệ An, Hà Tĩnh; thuộc giáo phận Vinh.

6. Bru-Vân Kiều (Vân Kiều, Ma Coong, Trì Khùa), cư trú tại Quảng Trị; thuộc giáo phận Huế.

7. Tà Ôi (Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Pa Hi), cư trú tại Thừa Thiên; thuộc giáo phận Huế.

8. Cơ Tu (Ca Tu, Ka Tu, Cao, Hạ, Phương, Catang), cư trú tại Thừa Thiên, Quảng Nam; thuộc các giáo phận Huế, Đà Nẵng.

9. Co (Cor, Kor, Col, Cùa, Trầu), cư trú tại Quảng Nam, Quảng Ngãi; thuộc các giáo phận Đà Nẵng, Quy Nhơn.

10. Hrê (Chăm Rê, Chom, Krẹ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Đá Vách), cư trú tại Quảng Ngãi và Bình Định; thuộc các giáo phận Đà Nẵng, Quy Nhơn.

11. Gié-Triêng (Gié-Triêng, Đgieh, Tareh, Giang Rẫy, Pin, Triêng, Treng, Tariêng, Ve, Veh, Lave, Catang), cư trú tại Quảng Nam và Kontum; thuộc các giáo phận Đà Nẵng, Kontum.

12. Brâu (Brao), cư trú tại Kontum; thuộc giáo phận Kontum.

13. Rơ Măm, cư trú tại Kontum; thuộc giáo phận Kontum.

14. Xơ Đăng (Xơ Teng, Hđang, Xđang, Mnâm, Ha Lăng, Ca Dong, Kmrâng, Con Lan, Brila, Tang), cư trú tại Quảng Nam và Kontum; thuộc các giáo phận Đà Nẵng, Kontum.

15. Bana (Gơlar, Tolo, Rơ Lơng, Y lăng, Rơ Ngao, Krem, Roh, Kon-Kđe, Ala Kông, Kpang Kông, Bơ-Nâm), cư trú tại Kontum, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà; thuộc các giáo phận Kontum, Quy Nhơn, Nha Trang.

16. Cơ Ho (Kơho, Xrê, Nộp, Tulôp, Cơdon, Chil, Lat, Lách, T’ring), cư trú tại Lâm Đồng, Ninh Thuận, Nha Trang; thuộc giáo phận Đà Lạt, Nha Trang.

17. M’nông (M’nông Gar, Nông, Préh, Bu Đâng, Đíp Preh, Gar, Bhiêt, Rlâm, Chil), cư trú tại Đăklăk, Lâm Đồng, Bình Dương; thuộc các giáo phận Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Phú Cường.

18. Mạ (Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ, Ma Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung), cư trú tại Lâm Đồng, Đồng Nai; thuộc các giáo phận Đà Lạt, Xuân Lộc.

19. Xtiêng (Xa Chiêng, Xađiêng, Bù Lơ, Bù Đek, Bù Điêk), cư trú tại Bình Phước và Tây Ninh; thuộc giáo phận Phú Cường.

20. Chơ Ro (Châu Ro, Chro, Dơ Ro, Châu Ro Thượng), cư trú tại Đồng Nai; thuộc giáo phận Xuân Lộc.

21. Khơ Me (Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me, K’rôm), cư trú tại Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau; thuộc các giáo phận Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Nhóm Môn-KhÆ¡ Me có địa bàn cÆ° trú từ các tỉnh phía Tây Bắc xuống đến các tỉnh đồng bằng sông Cá»­u Long.

   Ngoài người KhÆ¡ Me canh tác lúa nÆ°á»›c ở Nam Bá»™, 20 dân tá»™c thiểu số còn lại đều sinh hoạt trên các vùng sườn núi, đồi thấp và cao nguyên. Canh tác lúa và các loại hoa màu trên nÆ°Æ¡ng rẫy là sinh hoạt chính của họ, vá»›i công cụ thô sÆ¡, kỹ thuật canh tác Ä‘Æ¡n giản, năng suất cây trồng thấp, mùa màng tuỳ thuá»™c nhiều vào thiên nhiên. Đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Săn bắt, hái lượm còn giữ vai trò khá quan trọng, chăn nuôi và nghề thủ công là hoạt Ä‘á»™ng kinh tế phụ.

   Bon, plei là cÆ¡ sở thôn làng mang tính cá»™ng đồng. Xã há»™i truyền thống chÆ°a phân hoá giai cấp rõ nét. Nhiều phong tục tập quán chÆ°a tiến bá»™ còn gò bó người Môn-KhÆ¡ Me. Ngoài nhóm KhÆ¡ Me ở đồng bằng sông Cá»­u Long tin theo Phật giáo Tiểu Thừa, các dân tá»™c khác theo tín ngưỡng Ä‘a thần, vá»›i nhiều kiêng kỵ và lá»… nghi mang tính vật tổ giáo. Trong những thập niên gần đây, có nhiều ảnh hưởng Kitô giáo trên các cÆ° dân Môn-KhÆ¡ Me.

III. Nhóm Tày-Thái

   Đây là nhóm dân ngữ đông đảo phân bố trên má»™t địa bàn rá»™ng lá»›n ở phần lãnh thổ Trung Quốc và nhiều nÆ°á»›c ở Đông Nam Á. Tại Việt Nam từ Bắc xuống Nam, nhóm Tày-Thái gồm có 8 dân tá»™c: Nùng, Sán Cháy, Bố Y, Giáy, Lào, Lá»±, Tày, Thái.

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. Nùng (Xuống, Giang, Nùng An, Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Lòi, Quý Rịn, Khèn Lài…), cư trú tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lào Cai; thuộc các giáo phận Lạng Sơn, Hưng Hoá, Hải Phòng, Bắc Ninh.

2. Sán Cháy (Sán Chay, Caolan-Sánchỉ, Cao Lan, Mán Cao Lan, Hờn Bạn, Sán Chỉ, Sơn Tử), cư trú tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang, Lào Cai; thuộc các giáo phận Lạng Sơn, Hưng Hoá, Hải Phòng, Bắc Ninh.

3. Bố Y (Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn), cư trú tại Hà Giang, Lào Cai; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Lạng Sơn.

4. Giấy (Nhắng, Dẩng, Pầu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xa), cư trú tại Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

5. Lào (Lào Bốc, Lào Nọi), cư trú tại Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Thanh Hoá.

6. Lự (Lừ, Nhuồn, Duồn), cư trú tại Lai Châu; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

7. Tày (Thổ, Ngạn, Phén, Thù Lao, Pa Dí), cư trú tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Yên Bái, Bắc Giang, Lâm Đồng; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đà Lạt.

8. Thái (Tày, Tày Khao, Thái Trắng, Tày Đăm, Thái Đen, Tày Mười, Tày Thanh, Mán Thanh, Hàng Tổng, Tày Mường, Pú Thay, Thổ Đà Bắc), cư trú tại Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Hoà Bình, Yên Bái, Lào Cai, Thanh Hoá, Lâm Đồng; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Bắc Ninh, Hà Nội, Đà Lạt.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Sinh hoạt chính của nhóm Tày-Thái là canh tác lúa nÆ°á»›c tại các thung lÅ©ng, trồng các loại hoa màu trên nÆ°Æ¡ng rẫy, vá»›i trình Ä‘á»™ kỹ thuật cao, năng suất ổn định, Ä‘an xen vá»›i chăn nuôi, nghề thủ công. Trong nhóm, dân tá»™c Tày và Thái có trình Ä‘á»™ phát triển xã há»™i khá cao, vá»›i hai giai cấp rõ rệt, quý tá»™c và nông dân. Các “mừng” mang tính cách tổ chức xã há»™i tÆ°Æ¡ng đối hoàn chỉnh.

   Họ tin vào các sức mạnh thiên nhiên chi phối đời sống của họ, tin thần linh trên trời và ma quá»· dÆ°á»›i trần, tin vào sá»± phù há»™ của tổ tiên cho người đời sau. TrÆ°á»›c khi làm việc gì quan trọng, họ đều cúng tế thần thánh, ma quá»·. Đó là tín ngưỡng vạn vật hữu linh hay hồn linh giáo (animism).

   Văn hoá Tày-Thái là thứ văn hoá thung lÅ©ng riêng biệt khác vá»›i văn hoá châu thổ hay Ä‘ai sườn đồi của nhóm Môn-KhÆ¡ Me.

IV. Nhóm H’mông-Dao

   Nhóm dân ngữ này gồm 3 dân tá»™c xuất xứ từ Trung Quốc di cÆ° sang Việt Nam qua nhiều giai Ä‘oạn khác nhau: người Dao (thế ká»· XIII-XIV) H’mông (thế ká»· XVII-XIX), Pà Thẻn (thế ká»· XVII-XVIII).

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. H’mông (Mèo, Mẹo, Miếu Hạ, Na Miẻo, Mèo Hoa, Mèo Xanh, Mèo Đỏ, Mèo Đen, Mán Trắng), cư trú tại Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Vinh.

2. Dao (Mán, Động, Trại, Xà, Dìu Miền, Kiều Miền, Quần Trắng, Dao Đỏ, Quần Chẹt, Lô Gang, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cóc Ngáng, Cóc Mùn, Sơn Đầu), cư trú tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Lạng Sơn, Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hoá.

3. Pà Thẻn (Phà Thẻn, Pà Hưng, Tống), cư trú tại Hà Giang, Tuyên Quang; thuộc các giáo phận Hưng Hoá, Bắc Ninh.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Sinh hoạt chủ yếu của nhóm này là canh tác lúa, ngô và hoa màu trên các thá»­a ruá»™ng bậc thang, nÆ°Æ¡ng rẫy vùng núi cao, vá»›i công cụ còn thô sÆ¡, năng suất chÆ°a ổn định, nếp sống du canh du cÆ° tàn phá môi sinh rừng, nhất là ở vùng giáp biên giá»›i Việt - Hoa và Việt - Lào. Sinh hoạt của người H’mông là tiêu biểu cho lối sống du canh du cÆ°, vì “lá»­a cháy đến đâu, người H’mông chạy theo đến đó”, và “người chạy theo nÆ°Æ¡ng”.

   Người H’mông nổi tiếng về canh tác cây anh túc chứa chất thuốc phiện. Họ cÅ©ng chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhất là ngá»±a, lợn, gà, kết hợp vá»›i thủ công gia đình, dệt vải lanh (H’mông), làm đồ trang sức bằng đồng và bạc, làm giấy (Dao).

   Nhóm này Æ°a sống trên vùng cao dÆ°á»›i 1.000m, vừa định canh, vừa du canh, luôn di chuyển nÆ¡i cÆ° trú. Cách ăn mặc và trang sức màu mè sặc sỡ. Tín ngưỡng vá»›i những lá»… nghi theo chu kỳ nông nghiệp và mang tính cách mê tín tin theo các thầy mo (shaman). Xã há»™i xây dá»±ng trên huyết thống mạnh hÆ¡n trên quan hệ láng giềng.

V. Nhóm Kađai (Tiền Thái)

    Nhóm dân ngữ này gồm 4 dân tá»™c: Cờ Lao, La Chí, Pu Péo và La Ha.

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. CÆ¡ Lao (Tứ Đư, Hoki, Voa Đề), cÆ° trú tại Hà Giang; thuá»™c  giáo phận Bắc Ninh.

2. La Chí (Cù Tê, Thổ Đen, Mán Xá), cư trú tại Hà Giang, Lào Cai; thuộc giáo phận Bắc Ninh.

3. Pu Péo (Ka Beo, Penti Lô Lô), cư trú tại Hà Giang; thuộc giáo phận Bắc Ninh.

4. La Ha (Xá Cha, Xá Khao, Klá Phlạo, Bủ Hả, Pụa), cư trú tại Sơn La, Lào Cai; thuộc giáo phận Hưng Hoá.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Nhóm này xuất xứ ở Quý Châu (Trung Quốc), di cÆ° sang Việt Nam từ các thế ká»· XI đến XVIII.

   Sinh hoạt chính là canh tác lúa, ngô và hoa màu trên các thá»­a ruá»™ng bậc thang, nÆ°Æ¡ng cuốc, nÆ°Æ¡ng cày và thể canh hốc đá, kết hợp vá»›i trồng cây ăn quả nhÆ° lê, mận, đào, vá»›i kỹ thuật khá cao và năng suất ổn định.

   Họ sống định cÆ° trong những làng khá đông trên các sườn núi cao. Xã há»™i xây dá»±ng trên hệ thống tiểu gia đình phụ quyền. Tín ngưỡng thờ cúng gia tiên là chính yếu kết hợp vá»›i nhiều lá»… nghi theo chu kỳ nông nghiệp.

KHỐI NGỮ HỆ NAM-ĐẢO

   Nhóm Mã lai-Đa đảo

   Ở Việt Nam, khối này có má»™t nhóm dân ngữ mang tên Nam-Đảo, gồm 5 dân tá»™c: Chăm, Ra Glai, Chu Ru, Gia Rai và Ê Đê.

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. Chăm (Chàm, Chiêm, Chăm Pa, Chiêm Thành, Hời, Hroi), cư trú tại Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, TP. HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang; thuộc các giáo phận Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, TP. HCM, Long Xuyên, Xuân Lộc, Phú Cường.

2. Ra Glai (Raclây, Rai, Hoang, La Oang, Rangglai), cư trú tại Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng; thuộc các giáo phận Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, Đà Lạt.

3. Chu Ru (Chơru, Kru, Thượng), cư trú tại Ninh Thuận, Lâm Đồng; thuộc các giáo phận Đà Lạt, Nha Trang.

4. Gia Rai (Giơ Ray, Chơ Ray, Tơ Buan, Hơban, Hdrung, Chor…), cư trú tại Gia Rai, Kontum, Đăklăk; thuộc giáo phận Kontum, Ban Mê Thuột.

5. Ê Đê (Ra Đê, Đê, Kpa, Adham, Krung, Ktul, Đliê Tuê, Blô, Êpan, Mđhur, Bih…), cư trú tại Phú Yên, Khánh Hoà và Đăklăk; thuộc giáo phận Quy Nhơn, Nha Trang, Ban Mê Thuột.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Về nguồn gốc của các dân tá»™c thuá»™c khối ngữ hệ Nam-Á tại Việt Nam và tại nhiều nÆ¡i khác trên thế giá»›i, các nhà nghiên cứu vẫn chÆ°a thống nhất vá»›i các giả thuyết khoa học được đề xuất dá»±a trên các cứ liệu Ä‘a ngành và liên ngành.

   Sinh hoạt chính của nhóm này là canh tác lúa, ngô và hoa màu trên ruá»™ng rẫy. Công cụ và kỹ thuật thâm canh không đều ở má»—i dân tá»™c. Chăm và Chu Ru canh tác lúa nÆ°á»›c trên ruá»™ng vá»›i kỹ thuật khá cao và năng suất ổn định.

   Trong nhóm này, xã há»™i người Chăm phát triển cao vá»›i quá trình lịch sá»­ hình thành má»™t vÆ°Æ¡ng quốc thời cổ trung đại khá hùng mạnh, vá»›i má»™t nền văn minh Champa toả sáng mang nhiều dấu ấn của Ấn giáo và Hồi giáo. Trình Ä‘á»™ phát triển xã há»™i ở các dân tá»™c còn lại thấp hÆ¡n, chÆ°a phân hoá thành giai cấp. Plei vẫn là Ä‘Æ¡n vị xã há»™i cổ truyền cao nhất của họ.

   Nhóm này theo tín ngưỡng Ä‘a thần, thể hiện trong các lá»… nghi và tập quán kiêng kỵ theo chu kỳ nông nghiệp. Họ có má»™t kho tàng văn hoá dân gian phong phú vá»›i các sá»­ thi, anh hùng ca, vÅ© Ä‘iệu và nhạc cụ Ä‘á»™c đáo. Công giáo và Tin Lành Ä‘ang phát triển nÆ¡i các dân tá»™c này, kể cả người Chăm.

   Dù có chênh lệch về trình Ä‘á»™ phát triển kinh tế xã há»™i giữa Chăm và các dân tá»™c Nam Đảo khác, vẫn còn nhiều nét tÆ°Æ¡ng đồng trong văn hoá truyền thống của các cÆ° dân nhóm này.

KHỐI NGỮ HỆ HÁN-TẠNG

I. Nhóm Tạng- Miến

   Nhóm dân ngữ này có 6 dân tá»™c: Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La. Trừ Lô Lô, năm sắc tá»™c sau đều thuá»™c giáo phận HÆ°ng Hoá.

   Tên gọi và địa bàn cÆ° trú

1. Lô Lô (Mùn Di, Di, La La, Qua La, Ô Man), cư trú tại Cao Bằng, Lạng Sơn và Hà Giang; thuộc các giáo phận Lạng Sơn, Bắc Ninh.

2. Phù Lá (Bồ Khô Pạ, Lao Va Xơ, Mù Di Pa, Xá Phó, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang, Cần Thìn), cư trú tại Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu.

3. Hà Nhì (U Ní, Xá U Ní), cư trú tại Lào Cai, Lai Châu.

4. La Hủ (Khù Xung, Cò Xung, Khá Quy, Cọ Xọ, Nê Thú), cư trú tại Lai Châu.

5. Cống (Xắm Khống, Mấng Nhé, Xó Xeng, Phuy A), cư trú tại Lai Châu.

6. Si La (Cù Dề Xừ, Kha Pẻ), cư trú tại Lai Châu.

   Đặc Ä‘iểm văn hoá

   Thuá»· tổ của nhóm này, nhất là Hà Nhì và Lô Lô, bắt nguồn từ dân tá»™c Di, chủ nhân của văn hoá kim khí Ä‘iền vào thời các nhà nÆ°á»›c cổ Nam Chiếu và Đại Lý ở thế ká»· X-XIII trên các vùng Vân Nam và Tứ Xuyên ở Trung Quốc ngày nay. Khi các nhà nÆ°á»›c kia tan rã, má»™t phần cÆ° dân từ đó di cÆ° sang Việt Nam trong các thế ká»· XVI-XVIII.

   Sinh hoạt chính của họ là canh tác lúa, ngô và các hoa màu trên nÆ°Æ¡ng rẫy, các triền ruá»™ng bậc thang trên các sườn núi cao, vá»›i công cụ thô sÆ¡ và kỹ thuật canh tác Ä‘Æ¡n giản. Trong nhóm có sá»± chênh lệch về kỹ thuật: Hà Nhì, Lô Lô có phần cao hÆ¡n La Hủ, Phù Lá, Cống và Si La. Kinh nghiệm khai thác các triền ruá»™ng bậc thang của họ thật đáng cho nhiều người khâm phục. Ngay trong xã há»™i truyền thống, xã há»™i Hà Nhì và Lô Lô cÅ©ng có nhiều nét phân hoá sá»›m hÆ¡n các dân tá»™c khác. NhÆ°ng tất cả đều phảng phất những ảnh hưởng văn hoá Trung Á.

II. Nhóm Hán (Hoa)

    Nhóm dân ngữ này có ba dân tá»™c: Ngái, Sán Dìu và Hoa.

1. Ngái (Sán Ngải, Sín, Lê, Xuyến, Hẹ, Đản, Khách Gia), cư trú tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang; thuộc các giáo phận Lạng Sơn, Hải Phòng. Hiện một số người còn lập nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

   Sinh hoạt chính của họ là canh tác lúa, ngô, hoa màu. Má»™t số cÆ° trú ở các hải đảo hay ven biển và làm nghề đánh cá. Các loại thuyền nhÆ° thuyền vây, thuyền kéo, thuyền rê, thuyền câu trở thành phÆ°Æ¡ng tiện và môi trường sinh hoạt cho họ. Họ còn làm thủ công nhÆ° Ä‘an mành trúc, dệt chiếu cói, làm má»™c, nề, rèn, gạch ngói, nung vôi. Họ là những bá»™ phận dân tá»™c góp phần duy trì giao lÆ°u văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc.

2. Sán Dìu (Sán Dẻo, Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc), cư trú tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ; thuộc các giáo phận Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng.

   Họ là má»™t dân tá»™c thiểu số ở Trung Quốc, chịu nhiều ảnh hưởng Hán tá»™c. Do áp lá»±c cuá»™c sống tại Trung Quốc, họ đã di chuyển sang Việt Nam từ hÆ¡n 3 thế ká»· qua.

   Sinh hoạt chính của họ là canh tác lúa nÆ°á»›c vá»›i kỹ thuật thâm canh cao, năng suất ổn định, kết hợp vá»›i khai hoang phục hoá các sườn đồi thành nÆ°Æ¡ng rẫy định canh, trồng các loại ngô, khoai, đậu, mía, bầu bí, rau, cây ăn quả. Họ trao đổi sản phẩm vá»›i các dân tá»™c khác trong vùng.

3. Hoa (Khách, Tàu, Hán, Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Hạ Xạ Phang…), cư trú rải rác trên nhiều địa phương tại Việt Nam, tập trung đông nhất lần lượt tại TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai, An Giang, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Minh Hải, Tiền Giang...; thuộc các giáo phận: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Xuân Lộc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên… Người Hoa di cư sang Việt Nam vì nhiều nguyên nhân và vào nhiều thời điểm khác nhau.

   Từ giữa thế ká»· XVI trở về trÆ°á»›c, họ sang Việt Nam tập trung chủ yếu ở vùng Vân Đồn, Phố Hiến và má»™t số địa phÆ°Æ¡ng khác tại phía Bắc để lo làm ăn. Từ ná»­a sau thế ká»· XVI, nhiều người Hoa bắt đầu đến buôn bán và lập nghiệp ở Đàng Trong.

   Từ ná»­a sau thế ká»· XVII, do việc nhà Mãn Thanh lật đổ nhà Minh lên nắm quyền tại Trung Quốc, nhiều người Hoa, đặc biệt nhóm Mạc Cá»­u, Trần Thượng Xuyên và DÆ°Æ¡ng Ngạn Địch đến lập nghiệp tại vùng Hà Tiên, Rạch Giá, Biên Hoà, Mỹ Tho. Sau đó, khi người Pháp xâm lược Việt Nam, các đợt di dân người Hoa khác nhau đã diá»…n ra trên nhiều địa phÆ°Æ¡ng tại Việt Nam, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cá»­u Long.

   Sinh hoạt chính yếu của người Hoa ở Nam Bá»™ là canh tác lúa gạo, làm vườn, làm rẫy, trồng cây ăn quả. Những người sống ở thành thị làm đủ mọi nghề, nhất là buôn bán, sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ, công nghiệp chế biến kim loại, thá»±c phẩm, Ä‘an dệt, giày dép, vải sợi...

   Tín ngưỡng truyền thống của người Hoa vẫn là tam giáo đồng nguyên: Nho, Lão, Phật. Trong những thập niên gần đây, Công giáo và Tin Lành đã có ảnh hưởng trên cá»™ng đồng người Hoa.

   Văn hoá cổ truyền của người Hoa khá phong phú vá»›i các làn Ä‘iệu dân ca, đặc biệt là hát sÆ¡n ca, gồm nhiều thể loại nhÆ° hát ví, hát ghẹo,... Họ còn duy trì nhiều há»™i múa lân, múa sÆ° tá»­, múa quyền. Trong các lá»… nghi cúng bái, còn có các Ä‘iệu múa cây tiền, bÆ°á»›m lượn hoàng cung, vÆ°Æ¡ng mẫu rá»­a mặt, chải đầu, giã gạo, vá»›i các nhạc cụ nhÆ° sáo, kèn, hồ, nhị, đàn tì bà, đàn tam thập lục, trống, thanh la, não bạt...








  In bài này    Lưu dạng file    Gửi bài này qua Email


Những bài khác:



Gửi bài
Lên đầu trang
  Tin - bài mới nhất 
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Văn phòng TGM: Thông báo về Thánh lễ cao điểm Năm Thánh kỷ niệm 100 năm thành lập Tuần Chầu Lượt
Đức Giáo hoàng Phanxicô gặp Giáo chủ Giáo hội Chính thống Czech và Slovak
Giáo xứ Yên Đại: Khai mạc Tuần Chầu lượt trong Năm Thánh Thể Giáo Phận
Vòng loại Cuộc thi Tri thức Tôn giáo Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội 2018: Cử hành và Sống Đức Tin
Chúa nhật Lễ Chúa Thăng Thiên, năm B: Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa
Hội Dòng Chị Em Bác Ái Gioanna Antida Thouret: Thông báo tuyển sinh năm 2018
Giáo xứ Hòa Ninh: Khánh thành nhà thờ giáo họ Minh Lệ
Tòa Giám mục Giáo phận Vinh: Thông báo Lễ Truyền chức Phó tế cho các Đại Chủng sinh khóa XII
Hội Dòng Mến Thánh Giá Vinh: Thông báo Khóa học âm nhạc hè 2018
Thiên chức làm Mẹ của Đức Maria
Di dân Giáo phận Vinh tại Miền Nam: Bế mạc Giải Bóng đá Truyền thống Cúp Phục Sinh lần thứ VII
Thư Rao về việc truyền chức Phó tế cho Thầy G.B. Đoàn Văn Huy
Tuần Chầu lượt tại các giáo xứ Nghi Lộc, Làng Anh và Vĩnh Phước (Hà Tĩnh)
Thánh lễ Cao điểm Tuần Chầu giáo xứ Kẻ Mui: 14 tân tòng lãnh nhận các Bí Tích Khai Tâm

  Hỗ trợ Web GPVinh 

  Nghe Lời Chúa 


  5 phút suy niệm 


  Các Giờ Kinh Phụng Vụ 


  Vị Thánh trong ngày 


  Web Lam Hồng 


  Đăng nhập/Đ. ký 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ

  Giáo Lý - Đức Tin 


  Bác ái xã hội - Caritas 


  Tài liệu mới 
  Danh sách các thầy khóa XII được truyền chức Phó tế
  ThÆ° Rao Truyền chức Phó tế khóa XII
  ThÆ° Rao Truyền chức Phó tế khóa 12
  HÆ°á»›ng dẫn Mục vụ Thánh nhạc
  "Sống Và Yêu Thật Lòng" / Lm. Micae – Phaolô Trần Minh Huy, PSS
  Tông Huấn Amoris Laetitia (Niềm Vui Yêu ThÆ°Æ¡ng) của Đức Phanxicô
  Yêu ThÆ°Æ¡ng là sứ mệnh của chúng ta - Để gia đình sống dồi dào
  Văn bản Đàng Thánh Giá do ĐTC chủ sá»± ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 03/04/2015
  Æ n Gọi Và Sứ Mạng Của Gia Đình Trong Giáo Há»™i Và Trong Thế Giá»›i Ngày Nay
  ÄÃ ng Thánh Giá thứ Sáu Tuần Thánh năm Tân Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ - 2015
Xem tiếp...

  Radio Công giáo 



Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: vinhconggiao@gmail.com || Ban quản trị: quantri@giaophanvinh.net