GPVMenu

 Phim Công giáo online 

 Lịch Phụng vụ GP Vinh 

 Giờ lễ tại các nhà thờ 

 Quỹ Học bổng NTT 

 Giấy tờ - Chứng chỉ 

 ĐCV Vinh Thanh 


_READMORE
 Gia đình Web Giáo phận 
Lam Hồng (Đức tin & VH)

Phim Công giáo

Thánh Ca Online

ĐCV Vinh Thanh

Hội dòng MTG Vinh

Quỹ Học Bổng NTT

GĐ Thánh Tâm GP Vinh

Doanh nhân GP Vinh

Giáo xứ Bảo Nham

Giáo xứ Hòa Ninh

Giáo xứ Làng Rào

Giáo xứ Nghi Lộc

Giáo xứ Tân Lộc

Giáo xứ Trung Nghĩa

Sinh viên CG Vinh

CĐ Vinh Hà Nội
 Tra cứu bài viết 
Tháng Hai 2024
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29      
 <  > 
 Thống kê truy cập 
 Khách: 20
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 020
 Lượt tr.cập 054130350
 Từ điển online 
TỪ ĐIỂN ONLINE

 Bookmark & Share 

website security
 
Diễn đàn Giáo Phận Vinh 22.02.2024
DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH :: Xem chủ đề - Câu Lạc Bá»™

 Chào mừng bạn đến với diễn đàn GIAOPHANVINH.NET


 Xem bài chưa có ai trả lời 
Đăng ký làm thành viênĐăng ký làm thành viên 

gửi bài mới Trả lời chủ đề này DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH -> Truyện, ký, tiểu thuyết, Ä‘oản khúc... Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế
 Bạn đang theo dõi chủ đề ở chuyên mục : Truyện, ký, tiểu thuyết, Ä‘oản khúc... 
Người đăng Thông điệp
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 20.04.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

............
Lời tuyên bố là đề tài tốt cho việc thảo luận trong lớp, nhưng bất cứ khi nào tôi bảo các lớp của tôi đánh giá lời tuyên bố của Freud, họ không mất nhiều thì giờ để nhận ra rằng chính lời tuyên bố đó tự đánh bại nó một cách logic vì nó không bao giờ có thể được biện minh bởi bất cứ thực nghiệm khoa học nào có thể quan niệm được. Phần lớn các sinh viên của tôi không khó khăn gì nhận ra rằng chủ thuyết khoa học cũng là một tín điều tự hủy hoại cung cấp nền tảng ý thức bèo bọt cho toàn bộ công trình mà chúng ta đề cao với nhãn hiệu “chủ thuyết vô thần mới.”

Giả sử họ đòi buộc phải đọc hai cuốn sách của Harris, các sinh viên năm thứ nhất của tôi khó mà thất bại chú ý đến việc biết bao nhiêu lần anh sinh viên cao học Standford hô hào người đọc của anh từ bỏ niềm tin vào Thiên Chúa vì nó không dựa trên “chứng cứ.” Chứng cứ là một từ ngữ được nêu lên với tần số cao trong các tuyên ngôn của Harris, báo hiệu sự quan trọng của nó đối với người học giả trẻ tuổi này. Nhưng vì rõ ràng với Harris rằng chứng cứ thực sự nghĩa là những gì khả dĩ cho khoa học nhận biết, chẳng có gì trong giả định đang tiến hành của ông mà các sinh viên của tôi có thể đã chưa gặp gỡ trong chủ thuyết thiên nhiên thực nghiệm (empiricist naturalism) mà Freud và Russell chấp nhận như là quan điểm chung họ chia sẻ.

Vì lý do đó, sau khi học khóa “Vấn đề về Thiên Chúa,” đa số các sinh viên cử nhân của chúng tôi có thể nghĩ chính là ngu xuẩn cho bất cứ ai duy trì rằng khoa học có thể quyết định vấn đề về Thiên Chúa. Thế nhưng đó chính xác là những gì Richard Dawkins, người tiến hóa danh tiếng nhất của thế giới, tuyên bố trong Ảo giác về Thiên Chúa (48, 58-66). Harris và Hitchens cũng đồng ý với khẳng định của Dawkins, thậm chí cho dẫu họ hình như quá thận trọng không dám bạo mồm bạo miệng thẳng thừng như vậy. Khoa học, Dawkins tin tưởng thế, có thể quyết định vấn đề về Thiên Chúa bởi vì quyền điều khiển tiềm tàng của nó với mọi chứng cứ liên quan. Thế nhưng lời tuyên bố này hình như chẳng có ý nghĩa gì vì lý do đơn giản rằng phương pháp khoa học theo định nghĩa chẳng có gì để nói về Thiên Chúa, ý nghĩa, các giá trị, hay cứu cánh. Phải mất một thời gian dài cho tư duy con người để đến được điểm nhận thức, vào các thế thứ 16 và 17, rằng không cần phải nói đến Thiên Chúa hoài mãi khi giải thích làm sao các sự việc vận hành. Vì thế các nhà tư duy thiên tài vĩ đại đã đến với một phương pháp tìm hiểu ngày nay chúng ta gọi là “khoa học,” điều có thể cho chúng ta biết rất nhiều về thế giới bằng cách chỉ nhìn vào các nguyên ủy tự nhiên. Nhưng ở đây chúng ta có Dawkins, người giữ chức Khoa trưởng Charles Simonyi về Nhận thức chung của khoa học (Charles Simonyi Chair for Public Understanding of Science) tại Đại học Oxford, bảo chúng ta rằng vấn đề về Thiên Chúa giờ đây cũng đã trở thành một chủ đề thích đáng cho cả khoa học. Chắc chắn Dawkins phải chú ý đến sự trớ trêu, nhưng điều đó chẳng làm rộn gì ông. “Có thể là,” ông thú nhận, “nhân loại sẽ không bao giờ vươn tới được sự tận cùng của nhận thức hoàn toàn, nhưng nếu chúng ta tới được, tôi đánh liều một lời tiên đoán vững vàng rằng chính khoa học, không phải tôn giáo, sẽ đưa chúng ta đến đó. Và nó nghe ra như là chủ thuyết khoa học, vậy càng hay hơn cho chủ thuyết khoa học.” Trở thành minh bạch như vậy là một cải tiến trong việc cố gắng che đậy giả định nền tảng của chủ thuyết vô thần mới, nhưng nó chẳng làm được gì để làm vững chắc sự yếu kém logic của nền tảng không vững chắc đó.

Tuy nhiên, logic không phải là vấn đề duy nhất mà khoa thần học nhập môn của chúng tôi đã xem xét đến. Cũng bấp bênh là, nếu chúng ta xem chủ thuyết vô thần một cách nghiêm chỉnh là đúng sự thực, liệu nó có thay đổi nhiều cuộc sống và tự nhận thức của chúng ta hay không. Dĩ nhiên, các người vô thần mới sẽ trả lời rằng nó phải thay đổi lớn lao. Nhưng có thực không? Chúng ta đã thấy trong chương trước làm sao bốn chứng đế của họ có mục đích loại bỏ sự đau khổ không cần thiết và như thế đề cao hạnh phúc. Nhưng các cuốn sách phổ biến và hấp dẫn của họ không cống hiến một thảo luận sâu sắc về “hạnh phúc” nghĩa là gì. Hình ảnh của sự thỏa mãn của con người nổi lên từ các bài viết của họ là một sự thỏa mãn trong đó nếp sống hiện tại của chúng ta vẫn giữ nguyên gần như như cũ, ngoại trừ sự bất tiện của chủ thuyết khủng bố và những người theo thuyết tạo dựng. Việc tự nhận thức của chúng ta sẽ được tạo hình theo khoa sinh vật Darwin, nhưng chúng ta có thể trông mong rằng bản năng luân lý và xã hội của chúng ta, bắt rễ trong sinh học vẫn như chúng vốn là thế, sẽ duy trì không thay đổi ngoại trừ một vài sửa chữa văn hóa chút ít cần phải hình thành sau khi tôn giáo biến mất.

Không như các tình huống được che chở mà chủ thuyết vô thần mới bảo thủ xã hội tìm cách cứu vớt, những người vô thần cổ điển, tác phẩm của họ các sinh viên của tôi đòi buộc phải đọc, nói chung đòi hỏi một chuyển hóa (transformation) cấp tiến hơn nhiều về văn hóa và ý thức con người. Việc chuyển hóa này trở thành hiển nhiên hơn khi chúng ta chuyển từ Freud, Feuerbach, và Marx đến những người không thần không chúa nghiêm trọng hơn trong tác phẩm của Friedrich Nietzsche, Albert Camus, và Jean-Paul Sartre, các người vô thần hạng nặng (hard-core) thực sự. Với họ, chủ thuyết vô thần, nếu người ta thực sự chấp nhận nó nghiêm chỉnh, sẽ làm cho thế giới thay đổi hoàn toàn, và sẽ cần đến một nổ lực siêu phàm để chấp nhận nó. “Chủ thuyết vô thần,” như Sartre ghi nhận, “là một công việc độc ác và lâu dài.” Cùng với Nietzsche và Camus, Sartre nhận ra rằng phần lớn con người sẽ quá yếu đuối để chấp nhận hậu quả kinh hoàng của cái chết của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bất cứ điều gì ít hơn sẽ là chủ thuyết trốn chạy thực tại (escapism), hèn nhát, và đức tin xấu (bad faith).

Ngược lại, các sinh viên của tôi sẽ lập tức nhận ra rằng các tác giả mà tôi đang nghiên cứu trong cuốn sách này muốn chủ thuyết vô thần thịnh hành mà tổn phí ít nhất cho môi trường xã hội kinh tế dễ chịu từ đó họ thuyết giảng. Lợi ích của các người vô thần mới là gìn giữ hơn là cải tổ cấp tiến môi trường văn hóa phản ánh một cách thiếu phê phán trong các ước muốn của họ về một thế giới an toàn hơn. Họ sẽ làm cho các Thiên Chúa giáo—Do thái, Kitô, và Hồi giáo—đơn giản biến mất đi, sau đó chúng ta vẫn có thể tiếp tục tận hưởng cũng một kiểu sống như trước, chỉ không có sự phiền toái của ôm bom tự sát và các nhà rao giảng phúc âm trên TV. Chúng ta sẽ có thể thu dọn những gì tốt đẹp nhất mà cuộc sống cống hiến ngay từ bây giờ, nhưng không phải lo lắng về việc bị nổ tung bởi những kẻ cuồng tín cảm hứng từ Thiên Chúa.

Không phải chủ thuyết vô thần mới, một khi đã thi hành, sẽ không đổi gì mới hết đâu. Nhưng sẽ có một sửa chữa mỹ phẩm so sánh với định nghĩa lại sự hiện hữu của con người mà các người vô thần nghiêm chỉnh thực sự đòi hỏi. Hai thay đổi ý nghĩa nhất các người vô thần mới muốn làm là, thứ nhất, khoa học hơn là đức tin sẽ trở thành nền tảng của nền văn hóa của thế giới mới, như Freud và Russell đã tiên liệu; và, thứ hai, luân lý sẽ bắt rễ hoàn toàn từ lý trí. Khoa học, họ hy vọng, sẽ được giải phóng khỏi mê tín, và các bản năng đạo đức mà sự tuyển chọn tự nhiên đã khắc tạo trong chủng loại chúng ta qua hơn 2 triệu năm, cuối cùng sẽ được giải thoát khỏi sự ràng buộc què quặt với tôn giáo. Con người lúc đó sẽ tiếp tục vun trồng cách thiết yếu cũng các giá trị đó như trước, kể cả lòng vị tha, nhưng họ sẽ hòa hợp tốt đẹp mà không có các sách được cảm hứng và điều răn siêu nhiên. Các nhà giáo dục có thể dạy khoa học mà không có vấn đề những người theo chủ thuyết tạo dựng thò mũi vào, và sinh viên học sinh sẽ học rằng tiến hóa chứ không phải là việc tạo dựng siêu nhiên là cách giải thích cuối cùng về lý do tại sao chúng ta là thể loại sinh vật như chúng ta đang là thế. Chỉ có các tuyên bố dựa trên “chứng cứ” sẽ được khoan nhượng, nhưng sự thỏa mãn nhận biết chân lý về thiên nhiên bằng phương cách khoa học sẽ bù đắp cho bất cứ sự kiềm chế đạo đức nào chúng ta sẽ phải áp đặt trên bản năng thú vật của chúng ta.

Cách xử lý này về chủ thuyết vô thần, dĩ nhiên, chính xác là thể loại làm nôn mửa Nietzsche và làm Camus và Sartre co rúm người trong các quán cà phê Bờ bên trái của họ. Chủ thuyết vô thần với ít tổn phí nhất có thể được cho sự tầm thường của nền văn hóa phương Tây chẳng phải là chủ thuyết vô thần gì cả. Nó chẳng là gì hơn là sự dai dẵng của tính tôn giáo tê cóng vì cuộc sống dưới một chiêu bài mới. Xin ghi nhận rằng tôi không đang đề cao triết học phi lý của Camus cũng không phải chủ thuyết hư vô (nihilism) của Nietzsche hay Sartre. Nhưng các chỉ trích mạnh mẽ hơn đó về tôn giáo ít nữa cũng thông minh đủ để nhận ra rằng một sự chấp nhận hoàn toàn cái chết của Thiên Chúa sẽ đòi buộc một sự khổ tu hoàn toàn vắng mặt trong các công thức vô thần mới. Chủ thuyết vô thần, như sự quen thuộc của các sinh viên của tôi với Nietzsche, Camus, và Sartre có thể làm sáng tỏ, phải được nghĩ đến tận các kết luận logic cuối cùng của nó. Theo quan điểm đó, chủ thuyết vô thần mới, khi được đo lường theo các đòi hỏi chặt chẽ của một sự không tin tiếp diễn xuyên suốt thực sự, sẽ bị phơi bày như chỉ khác biệt hời hợt bên ngoài với chủ thuyết hữu thần truyền thống mà nó muốn thay chỗ. Sự ôn hòa của chủ thuyết vô thần tương đối mới mỉa mai thay nằm trong ý nguyện của nó để thương lượng với thể loại vô vị cách chính trị và văn hóa của chủ thuyết hữu thần mà nó tuyên bố phải hất cẳng. Một nhãn hiệu nhợt nhạt như vậy về chủ thuyết vô thần cho phép một cách không phê phán cũng các giá trị và ý nghĩa cũ tồn tại, chỉ khác giờ đây chúng có thể trở thành được phong thánh bởi thuyết chính thống Darwin bảo thủ cách đạo đức và chính trị. Nếu ước nguyện của các người vô thần mới có bao giờ được hoàn thành, chúng ta cần tiên liệu ít có gì cải tiến về văn hóa ngoại trừ việc xoay các địa điểm thờ phượng của thế giới thành nhà bảo tàng, tiệm nhảy discos, và quán cà phê.

Theo quan điểm này, chủ thuyết vô thần mới giống rất nhiều với chủ thuyết nhân bản thế tục (secular humanism) ngày xưa bị khiển trách bởi các người vô thần hạng nặng về tính nhát như chuột (mousiness) khi đối mặt với những gì sự vắng mặt của Thiên Chúa phải thực sự có ý nghĩa. Nếu quí vị sắp trở thành một người vô thần, phiên bản thô kệch nhất của việc không thần không chúa đòi hỏi sự nhất quán hoàn toàn. Xin đi hết con đường và suy nghĩ công việc của chủ thuyết vô thần đến tận cùng cay đắng; trước khi quí vị trở nên quá thoải mái với thế giới không thần không chúa mà quí vị trông mong, quí vị sẽ bị đòi buộc bởi logic của bất cứ chủ thuyết hoài nghi nhất quán nào để trải qua cảnh hoang dại mất phương hướng của chủ thuyết hư vô. Quí vị có can đảm làm điều đó không? Quí vị sẽ phải chấp nhận chủ thuyết anh hùng bi thảm của một Sisyphus , hoặc nhận ra rằng tự do đích thực trong sự vắng mặt của Thiên Chúa nghĩa là quí vị chính là người sáng tạo các giá trị mà quí vị sống với, một gánh nặng không khoan nhượng mà phần lớn con người muốn tìm cách tránh khỏi. Quí vị có sẵn sàng cho phép logic đơn giản dẫn dắt quí vị đến chân lý đích thực về cái chết của Thiên Chúa không? Trước khi ổn định vào một quan điểm chung thực sự vô thần, quí vị sẽ phải kinh qua cảm xúc Người điên (Madman ) của Nietzsche về việc đi lạc qua “sự hư vô vô tận” (infinite nothingness). Quí vị sẽ bị đòi buộc phải huy động một trình độ trước sau chưa từng có lòng can đảm nếu quí vị dự định xóa bỏ đi toàn bộ chân trời của siêu việt (transcendence). Quí vị có sẵn lòng chịu nguy cơ điên rồ không? Nếu không, vậy thì quí vị không thực sự là một người vô thần.

Có thể tiên đoán được, chẳng có gì trời long đất lỡ bày tỏ ra trong tư duy của Dawkins, Harris, và Hitchens. Ngoại trừ việc không nhân nhượng sự khoan nhượng, mà chúng ta đã ghi chú trước đây, và nồng độ cao của chủ thuyết Darwin làm nền tảng cho nhiều tuyên bố của nó, chủ thuyết vô thần hạng nhẹ ít có gì khác biệt với chủ thuyết nhân bản mà các người vô thần hạng nặng trừng trị thẳng tay vì sự lỏng lẻo của nó. Các người vô thần hạng nhẹ mới giả định rằng, bằng vào chủ thuyết Darwin, chúng ta có thể loại bỏ Thiên Chúa đi như loại bỏ Ông già Noen mà không phải chứng kiến sự sụp đổ hoàn toàn của nền văn hóa phương Tây—kể cả cảm quan của chúng ta về những gì là hữu lý và luân lý. Ít nữa các người vô thần hạng nặng đã hiểu rằng nếu chúng ta thành thực thực sự trong chủ thuyết vô thần của chúng ta, toàn thể mạng lưới các ý nghĩa và giá trị đã vây bọc chung quanh ý niệm về Thiên Chúa trong nền văn hóa phương Tây phải sụp đổ cùng với trung tâm tổ chức của nó. Nietzsche, Camus, và Sartre, và có lẽ nhiều người trong đám con cháu sau hiện đại của họ, chẳng dính líu gì đến chủ thuyết hoài nghi nhạt nhẽo thất bại trong việc suy tư chủ thuyết vô thần cho thông suốt với tính nhất quán tuyệt hảo.

“Nếu có ai đã viết một cuốn sách chỉ trích đức tin tôn giáo nhiều hơn tôi đã viết, tôi không được biết đến,” Sam Harris tuyên bố. Các sinh viên của tôi có thể không chắc chắn đến thế. Harris có thực sự đã nghĩ đến điều gì có thể xẩy ra nếu người ta chấp nhận niềm tin của người vô thần hạng nặng rằng chẳng có căn bản siêu việt cho các đánh giá luân lý của chúng ta không? Nếu người ta biết để hỏi liệu chủ thuyết thiên nhiên Darwin có thể cung cấp một nền tảng chắc chắn và bền vững cho các tuyên bố về chân lý và các phán đoán về giá trị của chúng ta không? Một nền giáo dục khoa học tốt có sẽ làm cho mọi người đơn giản quyết định trở nên tốt nếu vũ trụ vốn đã không có giá trị và không có cứu cánh không? Ít nữa các người vô thần hạng nặng đã cố gắng chuẩn bị cho người đọc của họ về một thế giới không quan điểm họ sẽ gặp phải nếu cái chết của Thiên Chúa có lúc được nhận lấy cách nghiêm chỉnh. Họ đã không hình thành một kế hoạch để giết Thiên Chúa vì họ giả định rằng người giết thần chúa (deicide) đã xẩy ra trong tay chủ thuyết khoa học và chủ thuyết thế tục. Nhưng họ đã muốn mọi người đối diện một cách thành thực với các hàm ý logic, đạo đức, và văn hóa của một thế giới không thần không chúa.

Nietzsche, Camus, và Sartre cũng đã thất bại tiêu biểu chủ thuyết anh hùng bi thảm mà họ nghĩ có thể sẽ là kết quả của chủ thuyết vô thần. Họ trở thành phần lớn giống tất cả chúng ta. Thế nhưng, sự thất bại của họ thực sự tăng cường câu kết luận mà ít nữa một số trong các sinh viên của tôi đã đạt đến trong khóa “Vấn đề về Thiên Chúa”: một chủ thuyết vô thần nhất quán thực sự là không thể thực hiện được. Và nếu chủ thuyết vô thần hạng nặng không thể thành công, nghi ngờ rằng biến thể hạng nhẹ cũng sẽ không thể thành công được. Sau khi đọc các luận văn kích động của Nietzsche về sự sáng tạo các giá trị mới có thể cần để thay thế một khi người ta nhận ra ý niệm về Thiên Chúa là hư cấu, các đơn thuốc đạo đức đích thực ông ủng hộ kết thúc may ra nghe như một phiên bản thú vị của cái cũ. Ông nghĩ rằng một khi chúng ta nhận ra chẳng có Đấng Tạo dựng, tính sáng tạo vừa được giải thoát của chính chúng ta sẽ có thể thấm nhuần với các ý nghĩa và các giá trị hoàn toàn mới sự trống rỗng vô tận (the infinite emptiness) để lại đàng sau. Sau khi chúng ta đã uống cạn biển siêu việt, sẽ có vô số không gian cho một tập hợp hoàn toàn mới của mệnh lệnh đạo đức (ethical imperatives). Thế nhưng người ta chỉ có thể thấy thất vọng với những gì Nietzsche chế tác. Tập hợp luật lệ mới của ông cho cuộc sống nghe một đầu nghi ngại như là chủ thuyết khổ tu của tu sĩ, và đầu kia như chủ thuyết nhân bản thế tục chẳng có gì đặc biệt: “Hãy có tính sáng tạo.” “Đừng sống đời sống tầm thường!” “Đừng nghe lời những ai nói về các hy vọng một thế giới khác!” “Hãy tiếp tục trung thành với trần thế.” Nietzsche chẳng có cách nào bỏ qua những gì ông đã nghe trước đây từ Kinh thánh. Lời mời gọi của ông về một một “sự vô tội mới mẻ của việc thành hiện hữu” (a fresh “innocence of becoming”) và “sự mới mẻ của đời sống” (newness of life) ít nữa là một âm vang phảng phất các tiên tri kinh thánh và Phaolô, chỉ khác là không có các nhân đức yêu thương và hy vọng.

Tương tự, Camus làm một chuyển mạch ngạc nhiên—không báo cho chúng ta chính xác vì sao—từ chủ thuyết phi lý (absurdism) trong các tác phẩm ban đầu, Người lạ mặt (The Stranger) và Huyền thoại Sisyphus (The Myth of Sisyphus) đến chủ thuyết nhân bản cảm động trong Bệnh dịch (The Plague) và sự ám ảnh phần nào theo chủ thuyết truyền thống với tội lỗi luân lý trong Sự sụp đổ (The Fall). Ông có thể đã đến chỗ nhận ra rằng sự không hy vọng hoàn toàn của chủ thuyết vô thần hư vô trước kia của ông không thể cung cấp một không gian trong đó con người có thể thực sống cuộc sống của họ. Cùng lúc, Sartre, một khi đã bảo đảm với chúng ta rằng chẳng có các giới răn được Thiên Chúa ban cho, kết cuộc nghe chừng gần như có tôn giáo khi đề xuất mệnh lệnh “mới” của ông, gọi là, “Hãy nhận lấy tự do của quí vị!” (Accept your freedom!). Với Sartre lúc ban đầu, luôn luôn là sai (“đức tin xấu”—“bad faith”) khi chối bỏ tự do của chúng ta và của những người khác. Nhưng đến chừng mực ông muốn tất cả các điều đó nghe ra có vẻ mới mẻ cấp tiến, nhằm làm cho chủ thuyết vô thần của ông nên ngon lành, ông đã phải lập luận rằng nói cho cùng “chủ thuyết hiện sinh” (existentialism) của ông thực sự là một hình thái của “chủ thuyết nhân bản.” Vậy nếu thậm chí các người vô thần hạng nặng thất bại trong việc hoàn thành chương trình của họ về việc tẩy xóa mọi vết tích của các giá trị siêu việt khỏi vũ trụ luân lý, thế thì các người vô thần hạng nhẹ của chúng ta có thể trông mong ít đi bao nhiêu, nói theo logic, để hoàn thành mục đích đó?

CHÍNH TRỰC
(Rightness)

Các người vô thần hạng nặng đặt ra các tiêu chuẩn đòi hỏi cao về những ai sẽ được phép vào trong xã hội của không niềm tin đích thực. Họ nhấn mạnh rằng mỗi một người vô thần nghiêm chỉnh phải suy nghĩ chín chắn những gì chủ thuyết vô thần đòi hỏi theo logic, thậm chí nếu tự bản thân họ không thành công trong việc thực hiện như vậy. Các người vô thần hạng nhẹ mới thậm chí không thử xem. Họ đồng ý với các anh chị em họ hàng tuyệt đối của họ rằng Thiên Chúa không hiện hữu. Nhưng nơi đâu sự khắt khe logic có thể đòi buộc họ cũng phải nhận thức rằng không có thiên đường không thời gian để chỉ định những gì tốt những gì không, các ý niệm của họ thay vào đó thành ẻo lả èo uột. Các người vô thần mới của chúng ta tiếp tục cam kết không điều kiện với các giá trị truyền thống như mọi người khác trong chúng ta. Họ làm như thế hầu như công khai trong mọi tuyên bố mà họ nói rằng đức tin là xấu, và rằng vì lợi ích của các giá trị đích thực, con người có luân lý phải gạt ra khỏi họ đức tin đó càng sớm càng tốt!

Tất cả ba người vô thần hạng nhẹ của chúng ta tuyệt đối chắc chắn rằng tín điều, lý tưởng, và thực hành của tôn giáo thiết yếu là điều ác. Quả thực, một dấu chỉ phân biệt của chủ thuyết vô thần mới là rằng nó không chừa chỗ nào cho khả năng của tính mơ hồ luân lý trong bất cứ thứ gì phảng phất mùi vị đức tin. Không một nhận thức rằng tôn giáo có thể có ít nữa một đôi khía cạnh cứu độ. Không một chuyện dông dài nào như thế được phép. Lòng ghét bỏ tôn giáo của họ có thể cảm giác được cho đến nổi các trang sách của họ hình như run rẩy trong tay chúng ta. Sự làm nhục như vậy, tuy nhiên, chỉ có thể trỗi sinh từ một nhận thức của việc bị chôn ngập trong một lãnh vực không lay chuyển của “chính trực” (rightness). Nhiệt tình của các người vô thần mới trong việc làm nhục đức tin, cách riêng niềm tin vào Thiên Chúa, là cũng kiên quyết như bất cứ người rao giảng Phúc âm nào có thể sắp đặt. Để biết với một tính chắc chắn như vậy rằng tôn giáo là điều ác, người ta trước hết đã phải hàng phục con tim và tâm trí của mình một cách không điều kiện cho những gì là điều thiện. Nhưng bằng cách thực hiện việc hàng phục này, các nhà phê bình của chúng ta phải không cách xa việc minh họa nhận thức thần học về đức tin mà tôi đã phác họa ở cuối chương 1.

Các cuốn sách của Dawkins, Harris, và Hitchens không phải là các luận giải ôn hòa như những sách mơn man dè dặt, và thường không hấp dẫn, từ các phân khoa triết học. Đó là các tác phẩm của thịnh nộ, và tôi nghi rằng hầu hết các nhà triết học sẽ bối rối với thể loại trình bày quá mức của ba người đó. Vì thế tôi nghi ngờ việc các nhà triết học cũng sẽ giới thiệu các tác phẩm đó cho sinh viên của chính họ, cho dẫu các cuốn sách đó có thể hữu dụng vào việc nghiên cứu trường hợp cho các lớp suy tư phê phán. Ở điểm nhậy cảm nhất của họ, điểm biện minh cho các giá trị nằm đàng sau việc đánh giá luân lý của họ về tôn giáo, sự liên kết logic rời bỏ từng người trong các người vô thần mới.

Với các người vô thần hạng nặng, người ta phải đặt câu hỏi về chủng loại mới này: Căn bản của sự chính trực luân lý của quí vị là gì? Nói cách khác, nếu không có nền tảng vĩnh cửu cho các giá trị, làm cách nào các tiêu chuẩn chặt chẽ của chính quí vị có thể là gì khác hơn là những bịa đặt trần tục tạm thời, thông thường, giới hạn thực chất? Nhưng quí vị lại xem đó như là ràng buộc tuyệt đối. Và nếu quí vị là người theo Darwin, làm cách nào các giá trị luân lý của quí vị cuối cùng có thể là điều gì hơn là các trù liệu mù quáng của việc tuyển chọn theo tiến hóa? Nhưng, lại nữa, trong việc quí vị kết án các điều ác của tôn giáo, quí vị giả định một tiêu chuẩn của điều thiện cũng không thời gian và tuyệt đối như được Thiên Chúa ban cho. Dĩ nhiên, không ai chống đối việc quí vị đưa ra các phán đoán luân lý. Nhưng nếu quí vị, bộ tộc quí vị, hoặc Mẹ Thiên nhiên là nền tảng cuối cùng của các giá trị của quí vị, tại sao khả năng của quí vị về sự chính trực hoạt động với sự quả quyết như vậy trong việc quí vị kết án luân lý của mọi người khác về đức tin? Có thể nào cuộc sống mong manh và tâm trí dễ dàng bị ấn tượng của chính quí vị—vì quí vị cũng là con người như chúng tôi còn lại—lại là nguyên ủy của một điều gì cứng rắn như khả năng chính trực của chính quí vị? “Xin thứ lỗi cho chúng tôi vì đã thẳng thắn như vậy,” các sinh viên của tôi sẽ hỏi xin, “nhưng nếu quí vị giờ đây đang nhờ cậy khoa sinh học tiến hóa, làm sao các biến cố may rủi và sự tuyển chọn tự nhiên mù quáng có thể giải thích sự tuyệt đối (absoluteness) mà quả thực quí vị gán cho các giá trị biện minh cho sự không khoan nhượng của quí vị với đức tin? Hoặc, nếu quí vị không muốn Darwin đưa ra toàn bộ câu trả lời, các luồng gió đa dạng có tính lịch sử của nền văn hóa loài người có thể nào giải thích đầy đủ sự chắc nịch như đá của sự chính trực của quí vị được không?”

Dawkins tuyên bố rằng Thiên Chúa trong Kinh thánh là một con quái vật; Harris, rằng Thiên Chúa là điều ác; Hitchens, rằng Thiên Chúa không vĩ đại. Nhưng không có vài khả năng cố định về chính trực, làm sao người ta có thể phân biệt những gì là quỉ quái, là ác, hay là “không vĩ đại” từ phe đối nghịch? Nhằm đưa ra các phán đoán về giá trị như vậy, người ta phải giả định, như các người vô thần hạng nặng thành thực đủ để nhận ra, rằng hiện hữu ở đâu đó, trong một vài thể thức của hiện thân, một lãnh vực của chính trực không mang nợ sự hiện hữu của nó hoàn toàn vào phát kiến của con người, sự tuyển chọn Darwin, hay sự xây dựng xã hội. Nếu chúng ta cho phép các người vô thần hạng nặng cùng dự vào các thảo luận của chúng ta, chúng ta có thể rút ra kết luận này: Nếu các giá trị tuyệt đối hiện hữu, thì Thiên Chúa hiện hữu. Nhưng nếu Thiên Chúa không hiện hữu, thì các giá trị tuyệt đối cũng không, và người ta không nên đưa ra các phán đoán luân lý như thể các giá trị đó hiện hữu.

Niềm tin vào Thiên Chúa hay việc thực hành tôn giáo, như tôi sẽ nhấn mạnh về sau, không nhất thiết nhằm cho con người thành các hiện thân có luân lý cao. Chúng ta có thể đồng ý với các người vô thần hạng nhẹ của chúng ta về quan điểm này. Nhưng câu hỏi thực sự, không phải do tôi mà do các người vô thần hạng nặng, là: Quí vị có thể biện minh cách hữu lý việc liên kết không điều kiện của quí vị vào các giá trị không thời gian mà không hàm ý gợi lên sự hiện hữu của Thiên Chúa không? Các người vô thần hạng nặng nói “Không.” Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở chương 6.

(Còn tiếp) Mời qúi độc giả đón xem TRANG VĂN số 05 – THẦN HỌC QUAN TRỌNG KHÔNG?
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU LẠC BỘ
SÁNG TÁC THƠ – VĂN CÔNG GIÁO



01/05/2010


Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Biến cố lịch sử của đất nước, của xã hội thường có liên hệ và ảnh hưởng đến những biến cố của mỗi cá nhân. Và mỗi người tùy theo nhận thức của mỗi người cảm nhận về những biến cố đó để tìm ra dấu chỉ của Thiên Chúa muốn nói, muốn mời gọi chúng ta đáp trả. Tìm ra dấu chỉ và Thánh Ý của Thiên Chúa nơi cuộc đời mình qua từng biến cố là điều hết sức quan trọng và cần phải có ơn soi sáng của Thánh Thần.

Cảm tạ Hồng Ân của Chúa đã tuôn đổ trên mỗi chúng con đã chiếu soi và ban Thần Khí của Chúa xuống thánh hóa tâm hồn chúng con để chúng con nhận ra dấu chỉ của Ngài và đáp lời “Xin Vâng”, để những bài viết của chúng con chứa dựng những thông điệp của Tình Yêu Thiên Chúa qua mọi biến cố trong cuộc đời chúng con và để có thể chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa đến với mọi tâm hồn, ở khắp mọi nơi.

Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, và Thánh cả Giuse chúc lành và tuôn đổ muôn Hồng Ân xuống cho TRANG VĂN 05 nhỏ bé này của chúng con.

TẠ ƠN MẸ MARIA

Xuân Phúc



Trong cuộc đời gian nan và vất vả của mỗi người luôn có Mẹ Maria đồng hành để nâng đỡ chở che. Có người cảm nhận được, có người thì chưa. Riêng tôi đã cảm nhận sâu sắc nhiều lần Mẹ Maria đã ra tay cứu giúp tôi khi gặp nguy hiểm trong thời gian tôi còn trong quân ngũ. Những mẩu chuyện Đức Mẹ cứu giúp tôi này, tôi đã kể cho bố mẹ vợ con và một số bạn bè tôi nghe, nay tôi xin thuật lại cho nhiều người biết đặng tin tưởng, phó thác và yêu mến Mẹ Maria nhiều hơn.

Chiến tranh đã kết thúc từ hơn 23 năm rồi mà ngỡ như mới đây thôi. Cuộc chiến tranh thật tàn bạo và khốc liệt đã cướp đi mạng sống của cả triệu quân dân 2 miền Nam Bắc. Nghĩ lại thời kỳ chiến tranh ai đã trải qua cũng phải rùng mình và ghê sợ.

Thời điểm 1971 – 1973 là những năm chiến tranh lên cao độ ác liệt. Lúc đó tôi đang phục vụ tại một đơn vị tác chiến đại đội 5 trinh sát sư đoàn 5 bộ binh chức vụ sĩ quan phát hướng viên. Đơn vị chỉ có cấp số 120 người, thế mà chỉ trong vòng 2 năm đã phải bổ sung 4 lần quân số, mỗi lần bổ sung từ 15 đến 20 người bù vào số người chết, số bị thương, số đào ngũ…



Ở đơn vị tác chiến cái chết thường xuyên xảy đến : tiến hành một cuộc hành quân là có chết chóc, một toán viễn thám nhảy dù vào rừng sâu thăm dò tin tức có khi mất tích không ai trở về. Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ lửa 1972 đơn vị tôi theo bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn 5 bộ binh lên tử thủ tại thị trấn An Lộc- Bình Long vô cùng gian lao và anh dũng đã hy sinh gần 1 trung đội.

Ngoài những cái chết quân vụ như thế còn có rất nhiều cái chết lãng xẹt khác: bất cẩn súng cướp cò là có chết chóc; “chén vè” thay vì nằm ở chốt chỉ định lại chui vào ấp dân để mìn của bạn nổ cũng có bị thương và chết chóc. Cái chết luôn ở bên cạnh và đến rất bất ngờ đã giúp tôi luôn nhớ đến Đức Mẹ. Trong túi áo lính của tôi lúc nào cũng có cỗ tràng hạt Mân Côi.

Một hôm Đại đội đóng quân ở một nơi an toàn gần cổng Nam căn cứ Lai Khê cách hậu cứ đơn vị hơn 1 cây số. Trung đội III tổ chức tiệc nhậu, trong lúc đang ăn uống vui vẻ, tự nhiên tôi cảm thấy nóng ruột khi nghĩ đến kỳ phát lương đã gần tới mà sổ sách chưa xong. Tôi nói lý do phải về hậu cứ lo một số công việc rồi đứng lên bắt tay Thiếu uý Hậu, chào anh em ra về. Vừa về đến văn phòng hậu cứ chưa đầy 5 phút, bỗng nghe máy truyền tin báo sự việc xảy ra: do có sự xích mích nhỏ trong bữa tiệc, một anh lính mang lựu đạn ra rút chốt hù dọa anh em chơi, nào ngờ hơi men chuyếnh choáng không làm chủ được, lựu đạn rớt nổ làm chết 4 người, 6 bị thương. Trong số chết đó có Thiếu uý Hậu bạn cùng khóa với tôi. Tôi bàng hoàng xúc động về sự việc đó và thầm nghĩ: Lạy Chúa trong lúc con đang ăn uống vui vẻ như vậy, chính Đức Mẹ đã nhắc con nhớ đến nhiệm vụ và con đã mạnh dạn rời bỏ cuộc vui. Nếu con còn ở lại đó thì không biết số phận con như thế nào ?

Sau vụ nổ thiệt hại quân số này, Đại úy Trần Văn Hạnh đơn vị trưởng phải từ chức. Trong thời gian chờ đợi bổ nhiệm đơn vị trưởng mới thì Thiếu úy Phạm Văn Sinh đại đội phó lên xử lý thường vụ đại đội trưởng. Thiếu úy Sinh rất nghiêm khắc với lính, những anh ba gai, không có giấy phép về nhà lên là bị xử phạt rất nặng và nhốt chuồng cọp. Chuồng cọp được làm ngay trước văn phòng hậu cứ đại đội bằng cọc sắt và dây kẽm gai, đan dày, thấp khoảng 6-7 tấc. Nhốt vào trong đó chỉ có ở thế bò hoặc nằm mà thôi.



Binh nhất Huỳnh Hữu Phương “dù” về Sài Gòn mấy ngày lên bị thiếu úy Sinh đấm đá, cạo đầu trọc và nhốt vào chuồng cọp mấy tiếng đồng hồ. Thật trớ trêu cho Phương lúc đang nằm trong chuồng cọp với cái đầu trọc lóc thì người yêu đến thăm, nhìn thấy cảnh tượng đó thật đau lòng và người yêu của Phương đã khóc !

Buổi tối hôm đó đơn vị tôi nhận công tác gác vòng đai căn cứ Lai Khê về hướng đông bắc gồm 11 lô cốt. Bộ chỉ huy đại đội nằm phía trong rừng cao su cách tuyến phòng thủ khoảng 20m. Sau khi kiểm soát việc bố trí quân số các lô cốt lần chót xong, tôi và thiếu uý Sinh về bộ chỉ huy đại đội nghỉ ngơi, hút thuốc lá, uống cà phê rồi hai chúng tôi nằm chung một giường bố trò chuyện. Khoảng 10 giờ tối, tôi bỗng nghe tiếng “rầm”. Một khẩu súng M16 của ai đó ném mạnh xuống đất gần chỗ chúng tôi nằm. Chúng tôi bật đứng dậy thì thấy một bóng đen từ gốc cây cao su gần đó bước tới. Tôi nhận ra ngay đó là Huỳnh Hữu Phương, anh đội nón sắt và trang bị trên người dây đạn đầy đủ.

Tôi hỏi: “có chuyện gì vậy ?”
Phương bật khóc, trong tiếng khóc uất hận Phương nói:
“Thiếu uý Sinh xử ác với em quá, em còn mặt mũi nào gặp lại người yêu. Em muốn chết !”
Thiếu úy Sinh và tôi đều xanh mặt. Tôi nhặt khẩu M16 lên, kéo cơ bẩm thì thấy đạn đã lên nòng và chốt an toàn ở vị thế LAFAN, nghĩa là bóp cò một cái là hàng loạt viên đạn ra khỏi nòng.
Lúc này thiếu úy Sinh nhỏ nhẹ nói với Phương:
“Tôi biết xử Phương như thế là nặng nhưng không làm như vậy thì chỉ huy lính tác chiến sao được !”
Rồi thiếu uý Sinh an ủi hứa sẽ nâng đỡ, rút Phương về bộ chỉ huy đại đội.

Sáng hôm sau đơn vị tôi về hậu cứ. Buổi trưa Phương đến phòng tôi tâm sự :
“Em không có ý định giết thiếu uý đâu, nhưng 2 người nằm chung 1 giường bố vì quá uất hận thiếu uý Sinh nên em quyết định giết cả hai. Em đến nép vào gốc cây cao su đó lâu rồi mà 2 thiếu úy không biết. Em đã 4, 5 lần bóp cò súng mà sao như có bàn tay mềm mại của ai đó chặn ngón tay em lại, không sao em bóp cò nổi. Lúc đó tai em nghe tiếng thiếu úy nói chuyện với cha Sinh rù rì, trầm bổng như tiếng cầu kinh. Em thì không có đạo nhưng em có cảm tưởng có một bà nào đó đã cứu Thiếu úy và nhờ vậy cha Sinh đã được thoát chết. Chứ em đã nhất quyết sau khi nã 1 băng M16 vào giường bố, chắc chắn không ai sống sót em sẽ rút chốt lựu đạn tự tử.”

Nghe Phương nói, tôi cảm nghiệm ngay là Đức Mẹ đã cứu sống 3 chúng tôi. Tôi nói với Phương là tôi tin Mẹ Maria đã ngăn chặn ngón tay không để cho Phương bóp cò súng nhờ đó hôm nay chúng ta còn sống, tạ ơn Đức Mẹ. Và tôi lấy cỗ tràng hạt trong túi áo lính ra chỉ cho Phương thấy ảnh Đức Mẹ.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris đã được ký kết. Mọi người đều vui mừng vì có hòa bình, nhưng hiệp định chưa ráo mực thì hai bên đều vi phạm lệnh ngưng bắn, bên nào cũng cố gắng giành dân chiếm đất. Chiến lược thống nhất đất nước bằng giải pháp quân sự kết hợp với chính trị của đối phương không có gì thay đổi, cuộc chiến lại ngày càng gia tăng.



Tôi đã cầu nguyện với Đức Mẹ cho tôi được đi khỏi đơn vị tuyến đầu lửa đạn này và Đức Mẹ đã nhận lời. Tháng 10 năm 1973 tôi được lệnh về Sài Gòn học trường hành chánh tài chánh. Sau khoá học tôi về sở I hành chánh tài chánh ở Gò Vấp phụ trách hậu kiểm hồ sơ bồi hoàn tử tuất. Mắt tôi hoa lên, tay tôi run run khi cầm lên các hồ sơ mang tên: Đại úy Quách Thế Nhơn đại đội trưởng đội 5 trinh sát, thiếu úy Phạm Văn Sinh, thiếu úy Âu Dương Nghinh và hơn chục tên tuổi khác thuộc đơn vị cũ của tôi đã hy sinh. Đại úy Trần Văn Hạnh (người đã phải từ chức sau vụ nổ) vì là người gan dạ, trận mạc giỏi nên được chuyển sang làm đại đội trưởng đại đội 9 trinh sát cũng đã hi sinh. Tôi xúc động không sao cầm được nước mắt !
Mấy ngày sau tôi liên lạc điện thoại lên Lai Khê đơn vị cũ của tôi hỏi thăm tin tức B1 Huỳnh Hữu Phương, được biết anh đã được chuyển về bộ tư lệnh sư đoàn và đang có ý định học đạo.

Cuối tháng 11-1974 tôi được bổ nhiệm làm sĩ quan thủ quỹ thiết đoàn 15 kỵ binh đóng tại căn cứ Suối Máu gần phi trường Biên Hoà. Tình hình chiến sự ngày thêm tồi tệ…
Cuối tháng 12 năm 1974, tỉnh Phước Long chỉ cách Sài Gòn 163 cây số QĐVNCH mất quyền kiểm soát. Ngày 10/3/1975 Buôn Mê Thuộc một tỉnh quan trọng vùng cao nguyên lại bị mất. Mỹ cúp viện trợ bắt buộc QĐVNCH phải phòng thủ co cụm bằng cuộc “di tản chiến thuật” thực chất là rút bỏ những vùng đất cho là không quan trọng thuộc quân khu 1 và quân khu 2 miền trung. Vì không chuẩn bị kỹ càng và khi di tản không kiểm soát được tình hình đã dẫn đến thất bại mau chóng.

Đêm 28/4/1975, lúc 20 giờ, cả bầu trời Biên Hoà sôi động. Hàng mấy chục chiếc trực thăng từ căn cứ không quân cất cánh di tản, tiếng động cơ ẫm ĩ, đèn máy bay chớp nhoáng như những con đom đóm bay ngợp trời. Xa xa có tiếng đại bác nổ.



Bầu khí trong đơn vị tôi thật nặng nề, căng thăng, hồi hộp. Số lính ở hậu cứ rộng lớn này còn khoảng 35 người, đa số là lính văn phòng không quen trận mạc. Lúc này hầu như không còn ai chỉ huy, các phòng ban tự lo liệu lấy. Tôi và mấy anh lính trong ban tài chánh ra nằm ở căn nhà trống gần chỗ làm việc cho thoáng mát, đợi lệnh di tản hay chờ trời sáng sẽ tính.

Tôi treo võng xong, lấy chiếc radio ra mở đài Sài Gòn, vặn âm thanh nhỏ vừa đủ một mình nghe rồi nằm theo dõi buổi lễ bàn giao giữa tổng thống Trần Văn Hương và tân tổng thống Dương Văn Minh, và ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Khoảng 1 giờ đêm trong căn cứ có những tiếng lựu đan nổ đó đây rất gần. Tôi bật người dậy chưa kịp đi giầy thì một trái Bêta (lựu đạn v.c) nổ ngay chỗ tôi làm người tôi tung lên cao, rớt xuống và tôi ngất đi. Tôi đã bị thương nặng ở cả hai chân, bàn chân phải nát bấy, ống quần chân trái bay đi mất, cẳng chân trái bị cháy lột hết một mảng da lớn, nhiều mảnh lựu đạn ghim sâu trong sớ thịt gần tới xương. Trung sĩ I Trần Văn Nuôi- kế toán trưởng- thấy tôi còn sống đến cõng tôi đi một đoạn dài về hướng sân cờ. Ở đây cũng có những bóng đen lạ xuất hiện và vài tiếng lựu đạn nổ rất gần làm TS1 Nuôi hoảng sợ bỏ tôi lại rồi chạy mất. Tôi hoàn toàn thông cảm với Nuôi 1 vợ 3 con còn nhỏ trong lúc hiểm nguy này mình phải tự cứu mình trước đã.

Tôi cố gắng hết sức đưa 2 chân về phía trước dùng bàn toạ và hai tay chống lết đi rất khó khăn. Qua hết sân cờ tới 1 cái rãnh không có nước, tôi lết theo bờ rãnh rồi chui vào trong ống cống, mệt quá và thiếp đi.



Tảng sáng 29/4/1975 tôi chui ra khỏi miệng cống nhìn về hướng cổng căn cứ thì đã thấy rất nhiều bộ đội nón cối đứng canh gác ở đó. Tôi lại tiếp tục chui vào ống cống ẩn chốn.
Phía trên ống cống có tiếng chân người đi, lác đác đây đó trên căn cứ vẫn có tiếng súng và tiếng lựu đạn nổ.

Tôi nằm trong ống cống một ngày dài. Thật lạ lùng tôi không hề thấy đói và khát gì cả, 2 vết thương lớn ở hai chân không hề chảy máu.

Đêm 29 rạng ngày 30/4/75 trời không tối, sáng mờ mờ, tôi cởi bỏ bộ đồ lính trong ống cống, trên người chỉ còn chiếc quần đùi màu xám và cỗ tràng hạt trên cổ. Tôi lết theo con rãnh ra bờ thành căn cứ để ra ngoài. Bờ thành thoai thoải cao chừng 2m, lết đến lưng chừng bờ thành thì nghe có tiếng động. Tôi quay nhìn lại thấy 2 anh bộ đội tay lăm lăm súng AK đang đi kiểm soát chỉ cách chỗ tôi chưa tới 1m. Tôi thầm làm dấu trong bụng và nhắm mắt lại cầu nguyện chờ chết. Lạ thay 2 anh bộ đội đi luôn không nhìn thấy tôi.

Tôi lại tiếp tục lết lên khỏi bờ thành vượt qua 7,8 lớp kẽm gai chằng chịt ra khỏi căn cứ, lết qua cánh đồng về hướng nhà thương điên Biên Hoà, đến trưa ngày 30/4/75 thì được dân cứu. Họ đưa tôi về nhà băng bó vết thương, cho quần áo, thuốc men, chăm sóc tử tế. Sáng hôm sau là ngày1/5/75 họ cho tôi tiền bạc và chở Honda ra bến xe để về Sài Gòn.

Mẹ Maria ơi ! trái Bêta nổ làm tung người con lên sao con không chết? Vết thương rất nặng ở hai chân thế mà máu không ra. Chịu trận trong ống cống gần 2 đêm 1 ngày sao con chẳng thấy đói khát chi?
Giải thích thế nào những sự kiện này ?
Con thì cảm nhận được chính lúc con gặp nguy hiểm có bàn tay Mẹ nâng đỡ che chở. Mẹ đã nuôi con sống, Mẹ đã băng bó cầm máu những vết thương của con và chính tay Mẹ đã che mắt họ để không nhìn thấy con. Con xin tạ ơn Mẹ đã cứu con trong lúc nguy nan. Mẹ chính là Mẹ Hằng cứu giúp. Mẹ là niềm an vui hạnh phúc của đời con.

Đời con luôn được Mẹ thương yêu
Gặp nạn nhiều phen tưởng đã tiêu
Đức Mẹ hằng ra tay cứu giúp
Tạ ơn Đức Mẹ thật là nhiều

Gx. An Lạc dịp lễ Đức Mẹ Mân Côi 1998
Xuân Phúc (Cosma Hoàng Văn Thực)




LỐI NHỎ VÀO ĐỜI

Bồ Câu Trắng


I “Ba ơi ! ba ơi ! dậy đi ba , đừng ngủ nữa…, sao ba hổng thức … Hu..hu..hu,con chẳng thích ba nằm ngủ hoài đâu ! Dậy đi ba ơi !!
Giọng cô bé thổn thức , đứt đoạn …, rơi vào khoảng không gian lạc lõng mênh mông . Tiếng trống, tiếng kèn rền rã lấn áp mọi âm thanh phát ra từ xung quanh . Người người bận rộn , chẳng ai thèm để ý ngó ngàng gì đến cô bé ,họ chỉ lo chạy tới , chạy lui ,thắp nhang, đốt nến , rồi đọc kinh –hát nhạc rôm rả .
Cô bé chưa thể hình dung được chuyện gì đang xảy ra trong ngôi nhà này , nó lầm lũi cất bước về hướng hành lang , thấy một phụ nữ dáng vẻ hiền lành , cô bé mạnh dạn lên tiếng hỏi :
_ Thưa bác ! Hôm nay là ngày gì mà người ta đến đây đánh trống thổi kèn vui quá xá vậy bác ?
Người phụ nữ ngạc nhiên chăm chú nhìn cô bé , bà dịu dàng xoa đầu và khẽ hỏi:
_ Uả ! Bộ cháu hổng hay biết gì hả ?
_ Biết chi ạ ! thưa bác !
_ Thì là ..là đám tang ông bác sĩ Hào đấy mà ! ông ấy bị bệnh , đã lìa trần tối hôm qua .
Cô bé bất ngờ hét lớn :
_ Ba cháu là bác sĩ Hào đang nằm ngủ trong kia , sao bác lại dám nói là đã lìa trần vậy hả ? mà lìa trần là cái gì chứ ! hả bác ?

Người phụ nữ chợt giật mình , run rẩy , bà vội vòng tay ôm cô bé vào lòng ,rồi thì thầm bên tai nó :
_ Xin lỗi ! xin lỗi ! Bác xin lỗi con !!
Cô bé hồn nhiên, mở to cặp mắt bồ câu trong sáng nhìn người phụ nữ đăm đăm , bất chợt nó vùng ra , vụt chạy vào bên trong định tới chỗ ba mình nằm, nhưng lúc này những người lớn đã ngăn cản giữ cô bé lại ,vì thi hài ba nó được mang liệm vào hòm.Cô bé hết sức bàng hoàng, sửng sốt , nó gào thét đến mệt lử rồi ngất đi.. hai chân khụy xuống bên cạnh người phụ nữ cũng đang sụt sùi kia .

Họ chở cô bé về ngôi trường nội trú để tiếp tục ở và học với các Soeur . Choàng tỉnh dậy để đối diện với nỗi đau thật lớn lao ấy ! nó cứ ngỡ mình nằm mơ chứ không phải sự thật… ! Nhưng rồi nó cũng phải đón nhận sự mất mát quá đau lòng đấy.. ! May mắn được các Soeur thương yêu nâng đỡ, nên nó bình tĩnh trở lại…Thời điểm ấy , lại đúng vào dịp Tuần Thánh và Lễ Phục-Sinh , một Đại Lễ Long Trọng được tổ chức rất lớn trong sự vui mừng tại trường nội trú của các Soeur . Nhờ đó , cô bé cũng được mặc lấy niềm vui và lòng tin vững vàng , cô tự nhủ : “Chắc chắn Chúa Giê-Su Phục Sinh, sẽ cho ba mình được cùng sống lại ở trên trời với Chúa, rồi mai mốt mình cũng được về nơi đó mà ,sướng quá !”.



Vậy là cô bé đã bình an vui vẻ và tiếp tục chăm lo đèn sách , nó sống hoà đồng với bạn bè cùng các Ma Soeur dưới mái trường nội trú thân yêu .
Một năm , hai năm , rồi ba năm vẫn êm đềm trôi qua …Bữa nọ , điện thoại ở dưới quê đột ngột báo lên xin phép Soeur Giám Thị cho bé Hai về gấp vì mẹ bị bệnh nặng.Cô bé liền được Soeur cho người đưa về tận nhà .
Nhìn thấy mẹ gầy mòn ốm yếu đang nằm trên giường bệnh…, lòng nó bỗng nhói đau tê tái ! Quay qua hai đứa em thơ tuổi tám, tuổi mười , nó chợt giật mình khi chứng kiến vẻ mặt hốc hác xanh xao của từng đứa…!Nó cảm thấy mình có lỗi vì xưa nay ít quan tâm đến gia đinh, cứ vô tư vui học và sống thật hạnh phúc dưới mái trường nội trú của các Soeur, suốt thời gian cấp một cho đến cấp hai bây giờ, và chỉ về nhà chơi vào dịp hè hoặc Lễ Tết chút đỉnh mà thôi, đến nỗi nhiều lúc nó quên cả gia đình và cứ ngỡ rằng mình là một “Ma Soeur nhỏ”cơ đấy !.
Sau một tuần ở nhà gần gũi thuốc thang chăm sóc mẹ và hai em , tối nay, nó được nghe lời mẹ thủ thỉ bên tai :
_ Này con, mẹ đã khoẻ rồi , để mẹ gọi điện nhờ Soeur về đón con tới trường nhé !
Bé Hai chú ý nhìn dáng mẹ gầy yếu hồi lâu , bỗng nó nắm lấy tay mẹ và nói :
_ Mẹ à ! năm nay con đã mười lăm tuổi, lớn rồi . Con muốn được ở nhà , để vừa đi học vừa có thời gian phụ mẹ công việc cho hai em con hết lo lắng , rồi lúc mẹ ốm đau cũng đỡ phải vất vả cực nhọc , mẹ nhỉ ?
Nhẹ hôn lên mái tóc của bé Hai , mẹ nó dịu dàng bảo :
_ Nhưng còn ước mơ đi tu của con…?
_ Nếu là ý Chúa , Ngài sẽ lo liệu , còn không thì vẫn đẹp như câu “Tu đâu cho bằng tu nhà , thờ cha kính mẹ cũng là đi tu” phải không mẹ ?



Bà mẹ đăm chiêu… nhìn đứa con đầu lòng ngoan ngoãn , bà khẽ nói trong nước mắt :
_ Tuỳ con gái cưng đấy ! Con muốn sao mẹ cũng chiều ý vậy !!

Bé Hai liền đứng lên bước tới ôm hôn vào má mẹ thật nồng nhiệt , rồi nó vội vã buông ra chạy biến khỏi nhà , đến vườn cây khuất bóng sau luỹ tre làng , nó để mặc cho “Trời mưa đổ lệ”,vì chẳng thể kềm chế được xúc cảm của lòng mình .

Cuộc sống mới bên ngoài không dễ dàng chút nào . Bé Hai đã phải cố gắng lắm để thích nghi được với môi trường đầy phức tạp và nhiều nỗi truân chuyên của hoàn cảnh “Mẹ goá con côi”. Nó thương mẹ lắm , luôn tìm đủ cách để đem niềm vui đến cho mẹ , nhiều khi nhớ về trường xưa chốn cũ …, nó đã thầm khóc trong đêm một mình , nhưng ngoài mặt ban ngày vẫn ráng nói cười vui vẻ , vì sợ mẹ biết sẽ buồn hơn .

Với nét đẹp bẩm sinh trời cho, nay tới tuổi dậy thì, bé Hai trổ mã lại càng xinh xắn hơn, mặc dù nó ăn mặc rất giản dị ,tính tình vẫn đơn-sơ thầm lặng…, vì nó thích noi gương “Một tâm hồn”của Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng .Bé Hai đã thật sự hoảng hốt khi bị đám bạn học nam giới chọc ghẹo, nó lại càng kinh hoàng hơn với những chiếc đuôi của những chàng công tử luôn bám theo mỗi lần nó bước ra khỏi nhà, nhiều lá thư và các lời tỏ tình ong bướm làm bé Hai sợ hãi chốn chạy… , nó còn ngạc nhiên hơn khi thấy người lớn đến nhà nói chuyện với mẹ để xin cưới hỏi cho cậu ấm con trai họ .
Khi nghe mẹ gợi ý thăm dò suy nghĩ về vấn đề cưới xin , bé Hai bỗng trở nên cứng cáp trong câu nói :

Con chưa hiểu về tình yêu nam nữ mẹ ạ ! và con vẫn muốn được đi học ! con biết nhà mình lúc này nghèo túng rồi , mẹ sẽ giàu lên nếu con chịu lấy cậu ấm con nhà điền chủ kia !! nhưng con lại muốn tự sức mình làm ra đồng tiền để không bị ai xem thường ,mẹ yên tâm đi , con đã cầu nguyện và nhất định trở lên thành phố xin ở nhờ nhà bác Tư mà hồi còn sống ba hay đưa con đến thăm , bác rất yêu quí ba và con đấy !

_ Mẹ e rằng thành phố có nhiều cám dỗ sẽ làm con hư đi !

_ Nhưng Chúa luôn ở bên con để giúp đỡ mà ! con đã học trường Ma Soeur và đọc qua nhiều báo chí để cảnh giác rồi , con tin Chúa sẽ độ trì con mẹ ạ !

Thế là sau những ngày mẹ con hủ hỉ tâm sự, bé Hai đã quyết tâm lên đường, người mẹ tuy đau đớn trong lòng…, nhưng bà vẫn ráng cười tươi qua cử chỉ thân ái yêu thương, để con được yên trí ra đi với hoài bão tốt đẹp và sự tự tin mang đầy tính thuyết phục của nó. Lòng bà thầm cầu xin Chúa xót thương đến hoàn cảnh gia đình mẹ goá con côi khốn khổ hiện nay của mình.

II- Hành trang mang theo để dấn thân một mình vào đời của cô bé chỉ vỏn vẹn cuốn Tân Ước nhỏ và chuỗi hạt Mân Côi đơn-sơ, kèm theo là ít đồ dùng cá nhân thật cần thiết ,với chiếc cặp sách học trò như người bạn thân yêu cùng đồng hành theo bước chân vào đời, và số tiền lộ phí không quá một trăm ngàn dằn túi .

Đứng trước cổng nhà người bác họ , bé Hai rụt rè mãi chẳng dám bấm chuông, một lúc sau cô chị lớn đi làm về nhìn thấy liền thốt lên :
- Ủa bé Hai đó hả ! Lúc này lớn xinh quá chừng heng, đi đâu tới đây vậy ? vào nhà với chị thôi !
- Dạ ..dạ..
Bé Hai theo chị lớn vào nhà gặp ông bác, và nó đã trình bày tất cả sự việc với lời ngỏ xin phép bác cho được tạm trú ở lại để đi tìm việc làm và kiếm chỗ học thêm . Ông bác đồng ý và kêu bà giúp việc dắt bé Hai xuống đằng sau, cạnh phòng ăn có chiếc giường bỏ trống, bé Hai được phép nằm nghỉ ở đó ! Ngay buổi tối nó đã gọi điện về nhà để mẹ được an tâm.

Qua một ngày nghỉ ngơi với sự gợi ý của chị lớn sẽ dắt bé Hai đi nhận việc vào hôm sau, đêm ấy ! nó trằn trọc mãi chẳng ngủ được, nằm trên giường bé Hai thầm lần chuỗi Mân Côi, đã quá nửa đêm mà sao nó còn nghe những tiếng nói xì xào ở phòng trên, linh cảm có điều gì đó! Bé Hai nhẹ nhàng lấy chiếc đèn pin vực dậy dọi lối đi, nó ghé sát tai vào cánh cửa phòng đang có giọng nói, bé Hai nghe rõ mồn một tiếng chị lớn :
“… Ba đừng lo, trước khi đưa vào khách sạn, con sẽ cho nó uống viên tránh thai liều mạnh là xong, ông khách nước ngoài này sộp lắm, đã đưa trước năm cây vàng cho con rồi nè, ổng hứa khi xong vụ mua trinh này sẽ giao đủ mười lăm cây”.
- Nhưng bé Hai mới mười sáu tuổi , tội nghiệp lắm !
- Có món tiền to đưa về quê cho mẹ là nó sướng lắm rồi còn gì! Chứ tuổi bé Hai mà đòi vừa đi làm lại vừa đi họ , e cơm mắm muối cũng chả đủ để ăn nữa là …
- Thôi được rồi! mày muốn làm sao thì làm , miễn đừng để tai họa gì xảy ra trong ngôi nhà này.
- Không có chi quan trọng đâu ! Ba cứ yên tâm đi.

Bé Hai sợ hãi đứng nghe mà tay chân run rẩy , nó cố gắng lấy lại bình tĩnh và lần về chiếc giường của mình , đưa tay lên hôn nhẫn chuỗi Mân Côi nó thì thào “Giêsu-Maria-Giuse xin cứu con”. Một thoáng suy nghĩ, bé Hai vội gom hết đồ đạc gọn vào túi xách, nó sợ mình ngủ quên nên cứ ngồi cầu nguyện …, trời vừa mờ sáng , bà giúp việc mở cổng ra quét dọn là bé Hai lén chuồn ngay. Trước lúc đi, nó vẫn lễ phép ghi lại mảnh giấy để trên giường : “ Thưa bác, con đã tìm được chỗ ở và việc làm rất tốt qua thông tin báo chí, con phải đi gấp. Kính chào gia đình bác, nguyện xin Chúa phù hộ cho con cùng gia đình bác . Kính mến”.

Bé Hai nhanh chân chạy ra bến xe buýt như bị ma đuổi, tim nó đập thình thịch , khi đã yên vị trên chiếc xe đang chuyển bánh nó mới bình tâm lại, quay sang người phụ nữ đang đọc báo ngồi kế bên, bé Hai xin mượn trang mục “Việc cần người”, nó chú ý đến một địa chỉ có ghi dòng chữ: cần một em gái từ 15 đến 18 tuổi có thể vừa đi học vừa phụ làm công việc xoa bóp, mức lương thỏa thuận sau. Thế là bé Hai hỏi thăm và tìm đến ngay địa chỉ này ở vùng chợ lớn với một bà chủ người Hoa. Bà quan sát nhìn nó từ đầu tới chân một hồi ,bỗng bà tươi cười nói lơ lớ nửa tiếng Việt nửa giọng Hoa:

- Hầy la ! Nị hủ leng a !!Được , được , nị sẽ làm cho ngộ.

Bà chủ dắt nó vào giới thiệu trong một “Thẩm mỹ viện” khá rộng đẹp , bà chỉ cho bé Hai thấy người làm massage (đấm bóp) cho các vị cao niên hoặc bất cứ ai cần chăm sóc sức khỏe, sau đó bà đưa nó về nhà mình để nhận phòng riêng ở và kêu nó nghỉ ngơi vài bữa vì bà nhận thấy bé Hai có vẻ mất ngủ qua ánh mắt quầng thâm mệt mỏi, bà đối xử thiệt tốt với nó như con cái trong gia đình vậy.

Hai ngày sau , bà chủ đích thân chở bé Hai đến một ngôi trường cấp ba Tư Thục và nộp đơn xin cho nó được vào học tiếp chương trình lớp mười phổ thông , bà còn khuyên nó cố gắng học giỏi để được lên đại học .
Với ánh nhìn phúc hậu, Bà nhẹ nhàng nói:
- Nị ráng học giỏi đi ! còn dư thời gian mới ra mỹ viện tập làm massage cho ngộ , việc học là quan trọng hơn cả ,ráng lên nghe.

Bé Hai thầm tạ ơn Chúa , nó ý thức thân phận nên luôn cố gắng siêng năng học hành và tranh thủ thời gian để tập làm công việc bà chủ giao. Chỉ sau vài tháng nó đã thành thạo nghề massage làm vui lòng khách, bà chủ cũng tốt bụng khi biết về hoàn cảnh gia đình bé Hai, bà đã thưởng cho nó một mức lương khá hậu hĩnh để gửi về cho mẹ hằng tháng. Bé Hai vui lắm , tuy ở với bà chủ không có đạo, nhưng biết nó là người công giáo, chủ nhật nào bà cũng dành thời gian cho bé Hai đi dự lễ. Bữa nọ, bà vui vẻ hỏi :
- Ngộ chưa từng biết Chúa của nị là ai ? Hổng rõ nị đi Nhà Thờ thì được hưởng cái gì chớ ?
- Dạ , bữa nào sẩm muốn, con mời sẩm đi cho biết ạ! Con đi Nhà Thờ được Chúa ban nhiều ơn lành lắm nè. Ví dụ như sức khỏe ,sự bình an ,rồi dạy con biết sống tốt với mọi người , biết yêu thương như Chúa thương yêu con vậy đó !

Bà chủ gật gù nhìn bé Hai đầy thiện cảm, gương mặt phúc hậu của bà ánh lên nét vui tươi thật sâu ẩn. Mùa Xuân năm ấy, cậu con trai bác sĩ của bà từ Trung Quốc trở về, dắt theo cô bạn gái cũng vừa mới ra trường đặc chủng gốc Hoa không biết nói một câu tiếng Việt .

Công việc massage cuối năm rất nhiều, thường kéo dài tới một giờ khuya mới hết khách. Buổi tối nọ, quá kiệt sức ,bé Hai đã ngã xỉu tại chỗ làm việc, người ta đưa nó vào phòng thuốc để cạo gió, cắt lể, rồi cho uống từng muỗng sữa, qua ngày sau nó vẫn mệt, không thể đứng dậy nổi, phải nhờ bà chủ xin phép nghỉ học dùm nó ít ngày. Thấy vậy, bà chủ quan tâm hỏi :
- Nị có muốn vào bệnh viện nằm điều dưỡng không ?
- Sẩm ơi ! Con mệt lắm ! Sẩm làm ơn đến Nhà Thờ mời Cha tới xức dầu giúp con đi sẩm!

Bà chủ tốt bụng liền gật đầu và mau mắn đi đón Linh Mục đến. Bé Hai thầm tạ ơn Chúa vì đã được đón nhận Bí Tích Xức Dầu bệnh nhân làm tăng thêm sức chịu đựng cho nó. Tối hôm ấy, bé Hai bỗng nhiên bị sốt mê man, cậu chủ bác sỹ đã đến chườm lạnh hạ sốt, tán thuốc đổ từng muỗng cho vào miệng nó. Sáng tỉnh dậy, bé Hai chợt giật mình vì thấy cậu chủ ngồi kế bên giường đang nắm bàn tay nó với ánh mắt nhìn soi mói, bé Hai hốt hoảng rụt tay lại và lên tiếng:
- Có phải tôi bị bệnh gần sắp chết không ạ ?
Cậu chủ bác sĩ lắc đầu và mỉm cười khẽ nói :
- Chỉ là quá suy nhược thôi ! Nghỉ ngơi , ăn uống tẩm bổ sẽ khỏe ngay à .
- Cảm ơn ..cảm ơn cậu chủ .

Thật bất ngờ , cậu chủ ghé sát tai bé Hai và nói : “Ngộ ái nị”,rồi nồng nàn hôn vào má , hôn lên trán nó thật thắm thiết. Bé Hai thảng thốt quay mặt vào trong, sợ hãi lắp bắp lên tiếng :
- Ay chết ! Bạn gái cậu mà biết thì khổ đấy! Tôi chưa học xong, chưa biết gì cả ! không thể “Ngộ ái nị” được đâu !!
- Ngộ sẽ dạy cho nị mà ! đừng lo ,cô bạn kia ngộ chẳng ái được nữa rồi !

Đúng lúc đó thì bà chủ bước vô , bé Hai thở phào nhẹ nhõm, nó cảm thấy mình đã tỉnh táo nên ngồi dậy và bước xuống giường . Bà chủ cười bảo :
- Cứ nghỉ thêm vài bữa cho khỏe hẳn đã búp bê xinh đẹp ạ !

Một tuần sau khi bình phục, bé Hai lại tiếp tục vừa đi học vừa làm việc. Đêm hôm ấy, xong việc cũng gần 12 giờ khuya , nó mệt mỏi bước vào phòng ngủ. Từ bên trong một bóng đen ôm chầm lấy bé Hai, cô bé hoảng hốt la lên: “Chúa ơi ! cứu con với !”. Có bàn tay đưa lên bụm miệng bé Hai và khẽ nói :
- Ngộ đây mà ! ngộ ái nị nhiều lắm …
- Hãy để khi khác nói chuyện này , bây giờ đã khuya , xin mời cậu chủ vui lòng ra khỏi đây, không thì tôi sẽ méc bà chủ đấy !

Như một con mãnh thú , cậu ta đóng sập cửa gài chốt lại rồi ôm chặt bé Hai vào lòng , hôn cuồng si lên môi miệng làm nó muốn ngộp thở luôn . Bé Hai nhanh trí dùng chiêu “Cẩu sực” mới thoát ra khỏi vòng tay vũ bão này, nó vội vàng mở then cửa chạy mau đến phòng bà chủ và gõ cửa ầm ầm kêu lên :
- Sẩm ơi ! Sẩm ơi ! cứu cháu với ! cậu chủ ..cậu chủ …
Bà chủ mở ngay cửa hỏi liền :
- Có chuyện gì thế ?

Bé Hai thở hổn hển kể lại sự việc vừa qua. Nó thật thất vọng vì bà chủ không tin, còn trách cứ: “ Có lẽ nị làm mệt quá rồi bị ảo tưởng đó thôi ! chứ con trai ngộ là bác sĩ giỏi mới ra trường làm gì có chuyện đó !”. Nói không được …nên bé Hai chỉ biết thút thít khóc và lặng lẽ đi về phòng ngủ, lòng nó thầm cầu xin Chúa cho được bình an.

Vài ngày sau , giông tố ấy lại đột ngột tái diễn ngay tại phòng tắm phía sau , và mức độ còn khủng khiếp hơn nhiều …, may mà bé Hai nhanh trí kịp đối phó trong lời thành khẩn xin Chúa giúp ,nên cô bé mới thoát nạn một lần nữa.

Buổi sáng , bé Hai buồn bã tới trạm điện thoại công cộng phôn cho một chị phóng viên mà nó từng quen biết khi chị đến massage. Một cuộc hẹn gặp gỡ tại trường đua Phú Thọ, bé Hai bỏ giờ học để đến gặp chị phóng viên, qua tâm sự chân thành cởi mở, bé Hai đã được chị đón nhận cưu mang cho về ở chung tại một cư xá, phải chấp nhận lớp học bổ túc ban đêm, còn ban ngày thì theo chị đi “Viết”.

Bé Hai đã âm thầm từ biệt bà chủ chỉ bằng một lá thư cảm ơn, và tường thuật lại những trận“Giông tố”đã xảy ra…, mà bà chủ không chịu biết cho nó .

Rồi một cuộc hành trình mới với nghề “Viết”. Bé Hai phải phấn đấu rất nhiều để theo chân được chị phóng viên trên mọi nẻo đường, mà vẫn duy trì được việc học, việc giữ đạo trung thành . Như một bông hoa hướng dương, bé Hai luôn hướng lòng về Chúa và hằng tín thác trong sự quan phòng của Ngài. Chính nhờ tình Chúa rất yêu thương, nên bé Hai mới chu toàn được bổn phận với Giáo Hội và xã hội cũng như với gia đình và tha nhân, đặc biệt là những người nghèo khổ tật nguyền mà nó được gặp gỡ, như niềm vui gặp được chính Chúa Giêsu và Mẹ Maria cùng Thánh Cả Giuse trong bối cảnh gia đình trần gian hôm nay.

Bồ Câu Trắng



CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH

Gm. Gioan B. Bùi Tuần




Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một biến cố quan trọng trong lịch sử đất nước Việt Nam. Ngày đó chấm dứt thời chiến, mở sang thời bình.
Thời bình, tính từ ngày đó đến hôm nay, đã được 35 năm. Thời gian này vắng tiếng súng, nhưng vẫn có nhiều mồ hôi nước mắt. Bởi vì vẫn còn nhiều cuộc chiến đấu vô hình. Ở đây, tôi chỉ xin nói lên một số cuộc chiến vô hình đó.

1/ Chống lại tình trạng trống rỗng
“Trống rỗng” là hiện tượng khá quen. Trống rỗng khách quan là cuộc sống đầy đặc những lời nói và hoạt động, nhưng trống rỗng nội dung. Trống rỗng chủ quan là cuộc đời không thiếu hưởng thụ, mà vẫn cảm thấy trống rỗng nội tâm.
Cái trống rỗng nặng nề là trống rỗng ngay trong những tương quan. Bề ngoài coi như vồn vã, nhưng thực chất bên trong chỉ là trống rỗng.
Trống rỗng vừa nặng nề lại vừa đau xót vẫn có trong nhiều trường hợp yêu nhau.
Cái trống rỗng gây thất vọng nhất chính là trống rỗng trong nhiều sinh hoạt tôn giáo.
Mang trong mình cảnh trống rỗng, người ta phản ứng bằng nhiều cách. Có người lao mình vào cảnh truỵ lạc. Có người đi tìm thế giới giải trí. Có người tự tạo nên một cảnh sống ảo.
Để lấp đầy cái trống rỗng nội tâm, người ta thường hay dùng đến các hình thức nặng về dáng vẻ bề ngoài. Nhưng nội dung vẫn trống rỗng. Đó là bệnh hình thức.
Thực ra, hình thức vẫn cần, nhưng phải làm sao, để đằng sau hình thức, người ta có thể đón nhận được sự sống nào đó. Sự sống đó là do giá trị nhân bản, giá trị trí thức, giá trị đạo đức, giá trị tu đức.
Những giá trị ấy là những chân lý toả sáng và những tình yêu đốt nóng.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu không ngừng cảnh cáo những cảnh sống đạo lấy hình thức làm chính. Cảnh sống đạo hình thức để lại một sự trống rỗng tệ hại.
Sự trống rỗng ấy rất tệ hại, bởi vì nó như một chứng bệnh nguy hiểm. Nó làm cho con người trở nên như người thiếu máu.
Để chống lại thứ bệnh nguy hiểm đó, thiết tưởng phải tăng cường đời sống suy tư lành mạnh và đời sống đạo đức đích thực.
Thực là vui, nếu thấy một địa phương phát triển về vật chất, mà cũng phát triển về suy tư lành mạnh và đạo đức đích thực.
Thực là mừng, nếu thấy đạo đời cùng nỗ lực chống lại tình hình trống rỗng.
Vui mừng đó chưa đều khắp, nhưng vẫn là niềm hy vọng lớn cho Đất Nước và Hội Thánh Việt Nam.
Một tình trạng nguy hiểm nữa cũng phải để ý trong thời bình, đó là tình trạng hỗn độn.

2/ Chống lại tình trạng hỗn độn
Thời bình dễ xuất hiện tình trạng hỗn độn. Hỗn độn nói ở đây là cảnh trà trộn giữa người tốt và người xấu.
Thánh Phêrô viết: “Trong dân chúng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả. Giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong... Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gọt giũa để trục lợi” (2 Pr 2,1-3).
Còn thánh Gioan tông đồ thì quả quyết: “Giờ đây, nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện” (1 Ga 2,18).
Thánh tông đồ còn nói thêm: “Nhiều ngôn sứ giả đã lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).
Thời các thánh tông đồ đã có cảnh hỗn độn dữ dằn như thế. Thời nay cảnh hỗn độn cũng vẫn tái diễn, với nhiều hình thức, từ th
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Thánh tông đồ còn nói thêm: “Nhiều ngôn sứ giả đã lan tràn khắp thế gian” (1 Ga 4,1).

Thời các thánh tông đồ đã có cảnh hỗn độn dữ dằn như thế. Thời nay cảnh hỗn độn cũng vẫn tái diễn, với nhiều hình thức, từ thô sơ đến tinh vi.
Cảnh hỗn độn thời nay có cái khó riêng của nó. Đó là khó phân biệt được rõ ràng người tốt người xấu, việc phải việc trái. Hoặc có biết, nhưng phải chấp nhận cảnh xô bồ đó.

Sự hỗn độn xảy ra ngay chính trong bản thân chúng ta. Một thí dụ dễ thường xảy ra, đó là những chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa đó có thực do
Chúa Thánh Thần soi dẫn, hay do ý riêng và biết đâu do ma quỷ? Ma quỷ thường có những kế hoạch tế nhị. Nó xúi người ta làm những việc ban đầu có vẻ đạo đức, nhưng thực ra sẽ đưa tới những hậu quả xấu, do vô vàn cái xấu lẻn vào.
Trước cảnh hỗn độn xưa và nay, Chúa dạy chúng ta phải “tỉnh thức và cầu nguyện”. Nhìn chung, sự cầu nguyện và tỉnh thức vẫn sống động nơi nhiều lương tâm tại Việt Nam. Tạ ơn Chúa.
Một cảnh sau cùng, mà thời bình rất cần cảnh giác và chiến đấu, đó là cảnh đi tìm hạnh phúc một cách tuỳ tiện.

3/ Chống lại tình trạng tuỳ tiện
Con người của thời bình là con người săn tìm hạnh phúc. Hạnh phúc thời bình là một thứ siêu thị. Có nhiều thứ để chọn. Mình chọn, mà người khác không chọn, thì cũng không sao. Chẳng ai ép mình phải chọn cái này mà bỏ cái kia. Mình chọn cái mình thích.
“Chọn cái mình thích”, khi trở thành chủ trương cho việc đi tìm hạnh phúc, thì tất nhiên sẽ đụng đến những nguyên tắc đạo đức. Trật tự luân lý không còn. Tu đức về vâng phục ý Chúa không còn. Giá trị về sự từ bỏ mình không còn. Đó là cảnh tuỳ tiện nguy hiểm.
Từ việc chọn sự gì mình thích như một hạnh phúc, sẽ gây nên khủng hoảng trong gia đình, và xã hội. Khủng hoảng đó nếu tồn tại, thì việc sống Phúc Âm, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần sẽ gặp nhiều khó khăn.
Cũng may là tại Việt Nam hôm nay, tình trạng tuỳ tiện đang bị khống chế bởi nhiều sức mạnh đạo đức.
***
Trong thời bình tại Việt Nam hôm nay, nhiều người đã có kinh nghiệm về ba tình hình vừa kể:
– Tình hình trống rỗng,
– Tình hình hỗn độn,
– Tình hình tuỳ tiện.


Ba tình hình đó đòi chúng ta phải chiến đấu với nhiều sức sống nội tâm. Vì thế, về mặt nào đó, có thể nói: Chiến đấu trong thời bình sẽ khó hơn chiến đấu trong thời chiến. Tuy biết là khó, nhiều người vẫn quyết tâm chiến đấu một cách kiên trì. Đó là điều đáng mừng và đáng được nâng đỡ.




KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

Lm Nguyễn Tầm Thường


Ai trong các con có bạn hữu nửa đêm đến nhà mình nói: Bạn ơi, cho tôi mượn mấy tấm bánh, vì bằng hữu ở xa tới mà tôi hết đồ ăn rồi. Người kia ở trong trả lời: Ðừng quấy rầy người ta, cửa đóng rồi, trẻ nhỏ ngủ hết, ai dậy mà lấy cho ông được. Nhưng nếu họ cứ gõ hoài. Ta bảo thật, người ấy không dậy mà cho vì tình bạn bè thì ít ra vì họ quấy rầy nên cũng ráng dậy mà lấy cho họ. Nên Ta bảo cho các con rõ: Vì hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho (Lc. 11: 5-10).
Chúa bảo tôi đến gõ cửa, ở đấy có chờ đợi. Ðó là lời xác định của Chúa. Như vậy, chắc chắn tôi sẽ bắt gặp nếu tôi kiếm tìm, tôi sẽ tìm thấy nếu tôi van xin.

Nhưng trong đời, tôi đã kinh nghiệm một nỗi bận tâm khó hiểu. Tôi gọi mà Chúa không đáp trả. Tôi xin mà Chúa không cho. Có những vực sâu của tâm hồn, có những đêm dài bất an, tôi hướng về Chúa nhưng tôi không gặp. Tôi không ước mơ những ước mơ lớn. Tôi chẳng xin sang giàu. Tôi chỉ xin cho tôi nhẹ bớt khổ đau tâm hồn. Tôi chỉ xin cho đỡ kéo dài bệnh tật của thân xác. Tôi chỉ xin Chúa soi cho tôi một ánh đèn khi tôi phải quyết định những vấn đề quan trọng. Tôi chỉ xin Chúa giữ tôi lại trước đêm đen mịt mùng cám dỗ. Nhưng tiếng tôi từ vực sâu lại vọng về với tôi trong nỗi vắng. Những lúc tôi cần Chúa nhất thì Ngài lại bỏ tôi đi xa. Vì sao Người im tiếng?

Ngài im tiếng. Hay có phải Ngài đang nói mà tôi không nghe? Ngài chối từ. Hay có phải cánh cửa đã mở mà tôi không vào vì có vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh? Ngài im lặng. Hay có phải Ngài bảo tôi: Hãy vào sa mạc, hãy ra bờ đá lặng thinh, hãy khép lại bớt cửa lòng rồi con sẽ nghe thấy tiếng Cha. Nhưng tôi chán những bờ đá vắng vẻ, và tôi đã yêu những vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh. Làm sao tim tôi nghe được tiếng con họa mi đang hót khi mà bầy ve sầu đam mê đang kêu inh ỏi trong hồn?

Ngài thờ ơ. Hay có phải Ngài không đáp trả vì tôi bất xứng với ân sủng của Ngài. Chẳng ai có thể trách vì sao không có mặt trời nếu họ cứ sống dưới hầm tối, vực sâu. Chẳng ai có thể trách vì sao không có bình an nở giữa khu vườn tham lam. Người cha tốt là người cha đóng cửa nhà mình để đứa con khỏi ngày ngày về lấy gia tài đi hoang đàng, phung phí.

Vì sao Chúa không cho tôi điều tôi xin? Ðã bao lần Chúa bắt tôi đi. Gian nan. Mỏi. Tôi muốn ghé tạm xuống đường ngồi nghỉ. Nhưng Chúa biết để tôi ngồi nghỉ, dần dà tôi sẽ nghe theo tiếng nói của đất thấp, tôi sẽ lười biếng đối với tiếng gọi của trời cao. Tôi trách vì sao Người không cho tôi lập nghiệp trên những ước mơ của tôi, xin làm quê hương trên những ý nghĩ riêng tư của tôi. Ngài chẳng đáp trả, vì Ngài biết đường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi. Trong những đêm đen như mù mịt, tôi gõ nhưng cánh cửa chẳng mở. Phải chăng chỉ có Ngài, Ngài mới biết những gì là tốt nhất cho phần rỗi của tôi. Như vậy, không đáp trả có là dấu chỉ của tình thương?

Khi không đáp trả, đấy cũng là một cách trả lời. Trả lời bằng lặng im nhiều khi lại là câu trả lời thâm sâu và hàm chứa nhiều ý nghĩa.

Tôi không đến với ai mà tôi biết chắc rằng tôi không thể tin cậy. Khi đến xin Chúa trợ giúp là tôi đặt niềm tin nơi Ngài. Nếu đã đặt niềm tin thì sao lại có thể phân vân. Khi Ngài im lặng như không đáp trả, tôi lo âu, thì đấy là dấu hiệu niềm tin đó không vững vàng.
Niềm tin là lời cầu nguyện để xin được biến đổi. Như thỏi đất sét tin mình nằm trong tay người thợ lành nghề. Người thợ gốm biết loại đất sét nào có sức chịu đựng để đúc gạch lót đường, loại nào có thể tạc tượng. Niềm tin vững vàng là phó thác trong tay người thợ gốm vì tin rằng mình được yêu thương và săn sóc. Tin vững vàng hệ tại phó thác rằng Chúa là người thợ gốm khôn ngoan và không lầm lẫn trong công trình sáng tạo. Chứ tin vững vàng không có nghĩa là tin mình sẽ biến đổi được ý định của Chúa để đạt được điều mình xin. Có những lời xin chẳng bao giờ được đáp trả nhưng lại là một ân sủng thật lớn lao.

Ngày còn bé tôi không biết cầu nguyện thế nào. Những ngày bom nổ nhiều là những ngày mẹ tôi càng lo. Mỗi tối, mẹ tôi bảo tôi ngồi lần hạt cầu nguyện cho cha ngoài trận tuyến. Trong trí óc non dại, tôi cầu nguyện cho cha tôi được bình yên. Một lằn đạn hiểm nghèo. Một trái mìn kín đáo. Ðời sống bếp bênh như treo bằng sợi chỉ. Chỉ một giấy báo tin thôi, tôi sẽ là đứa mồ côi. Mẹ tôi sẽ là góa phụ. Tôi đã thấy nhiều lá cờ trải lên mộ đất. Tôi đã thấy nhiều chuyến xe nhà binh chở đơn độc một quan tài, người thiếu phụ đội nón trắng ngồi lặng lẽ không còn nước mắt để khóc.

Rồi chuyện một đêm đã đến. Chiến tranh đổ xuống trên mảnh đất quê tôi. Tôi còn bé, nhưng tôi hiểu những nghẹn ngào của người có thân nhân vừa mới vĩnh biệt. Mưa ướt lẹp xẹp, tôi nghển cổ nhìn qua cửa sổ đông chật người. Một chiều mưa ảm đạm, lạnh lẽo làm sao. Mái lá thấp đổ những dòng mưa thảm não. Tôi vẫn còn nhớ cái buổi chiều xám nặng nề ấy cho tới hôm nay. Ðôi chân của cậu X. chết nằm sóng sượt trên cái phản gỗ. Bùn dính lem luốc. Mợ X. khóc thảm thiết bên xác chồng mới chết trận. Ai đã bắn chết cậu? Có phải kẻ mà cậu chưa kịp bắn?
Tò mò, tôi theo những đứa trẻ khác ra ven rừng xem xác chết. Những hố bom cày tung đất còn mới nguyên. Vải băng trắng còn lẫn với xác người chưa kịp thu. Giữa những xác người ấy, tôi thấy một người nằm chết cong queo, cụt chân vì bom nổ, máu bầm khô bết vào áo đầm đìa. Mặt cháy đen. Nhìn kỹ trên khuôn mặt ấy, tôi không quên được là chuỗi tràng hạt vẫn quàng vòng quanh cổ. Kẻ chết là một bộ đội miền Bắc. Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là bộ đội cộng sản cũng tin vào Chúa như tôi sao?

Từ ngày đó, mỗi lần giúp lễ, nhìn lên thánh giá mà hồn tôi bâng khuâng. Tôi thấy Chúa buồn. Quỳ đây, tôi cầu nguyện xin Chúa chở che cha tôi ngoài chiến trận. Nhưng người cán binh bộ độ ấy, có thể cũng có một đứa con trai bằng tuổi tôi ở ngoài miền Bắc. Nó cũng là cậu bé giúp lễ. Cứ mỗi sáng, mẹ nó cũng đánh thức nó dậy thật sớm để giúp lễ, cầu nguyện cho cha đang ở mãi trong miền Nam heo hút. Năm tháng bặt tin, chắc chiều chiều, tối tối, mẹ nó cũng rối bời lòng trí, thẫn thờ nhìn về phương Nam, dục nó đọc kinh. Chúa nghe lời tôi để cha tôi giết họ? Chúa nghe lời cậu bé kia để cha cậu giết cha tôi? Cả hai cậu bé đều cầu nguyện, Chúa biết nghe lời ai?

Tôi không tin là Chúa có câu trả lời. Tôi chỉ cảm thấy rằng Chúa khó xử ghê gớm lắm. Chúa trên thập giá như càng thêm đau đớn. Mỗi lời cầu của tôi là một vết thương cho Ngài. Mỗi nỗi lo âu của cậu bé ngoài miền Bắc kia làm Ngài thêm khổ tâm.
Tôi hình dung Chúa như một người cha. Ðứa con thứ nhất chạy đến: Cha ơi, đưa con dao cho con để con chém nó. Ðứa con kia chạy lại, sợ hãi: Cha ơi, đừng đưa! Cha có biết rằng con cũng là con của cha sao? Và người cha chỉ còn biết đớn đau mà thôi, vì cả hai con đều là con của mình.

Từ đó, mỗi buổi sáng giúp lễ, tôi thấy Chúa trên thập giá như ngậm ngùi. Tay giang rộng cứ thêm mãi khổ thương. Từ ngày đó, trong cái trí óc non nhỏ của tôi, tôi hiểu mơ màng rằng bất cứ hành động nào gây thương tích cho nhau cũng là làm khổ cho Cha trên trời.

Lạy Chúa,
Mỗi khi con cầu nguyện thì cho con biết xin được biến đổi, chứ đừng biến đổi Chúa. Làm sao con có thể biến đổi sự khôn ngoan của Chúa thành sự vụng về của con. Khi con nài Chúa làm theo ý con là con muốn đem sự hoàn hảo của Chúa thành những bất toàn giống như của con.
Con ngỡ tiếng sói sủa là vui tai. Con ngỡ lời mời của Satan là tha thiết. Con ngỡ trái táo hồng có hương thơm, nào ngờ đâu con có biết sâu độc làm tổ ở bên trong. Những lời con xin nhiều khi rất đẹp, nhưng chỉ là đẹp theo cái nhìn của con mà thôi.

Lạy Chúa,
Xin cho con hiểu rằng có những lời xin mà Chúa chẳng thể đáp trả được. Và chính lúc Chúa im lặng lại là lúc Chúa đang nói với con bằng ngôn ngữ nhiệm mầu nhất.
(SJ trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”)



EM CÓ BAO GIỜ CÒN NHỚ MÙA XUÂN

Trần Ngọc Mười Hai


Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ.”

(Ngô Thuỵ Miên – Em Còn Nhớ Mùa Xuân)
(Rm 6: 8)

Về chữ “nhớ”, đúng ngày người mình tiễn biệt Thầy Chí Ái, Thứ Năm Thánh 2010, bần đạo được dặn: chớ quên buổi an táng người anh em bên Phật. Tại nghĩa trang Botany, Sydney. Dự buổi an táng ở nghĩa trang. Người người thấy bi ai. Thổn thức. Từ biệt. Giã từ biền biệt, người chiến hữu ngoài Đạo, vẫn bất khuất. Nhân ái.. Độ lượng. Và, đặc trưng buổi hôm ấy, là câu hát rất nghe quen của thành viên tham dự, trước giờ “G”. Có chốn về. Rất gợi nhớ.

Gợi nhớ trên, thoạt nghe đã thấy đẹp. Đẹp như một giòng thơ. Có nhạc kèm. Rất chân chất. Những thi ca. Và, nhạc nền. Đến độ, người nghe nhạc bản thấy lòng mình, như thẫn thờ. Hít thở từng lời thơ. Ý nhạc. Rất thanh thoát, nhè nhẹ đi vào hồn người. Bình yên. Sâu sắc. Thoát tục.

Này hỡi bạn, và hỡi tôi. Nên chăng ta cứ đổi thay chỉ nét “x” ở từ “xuân”? Thử thay đổi, bằng những chấm phá đậm mầu. Viết chữ Hoa. Rất lớn. Thử xong, ta sẽ có ngay một liên tưởng, về Chúa Xuân. Tức, Đức Chúa của Mùa Xuân. Của, Tình Yêu. Xuân Bất Tận. Hằng hiện hữu. Bằng, tình tự. Ý tứ. Rất thơ văn. Khiến, từ văn nhân/thi sĩ cho chí người đặt nhạc, vẫn cứ liên tục nhân cách hoá, Thứ Tình rất Xuân. Có ở mọi nơi. Thứ Tình rất thánh. Của, những yêu thương. Nồng thắm. Nụ cười gần.
Gợi nhớ, để rồi hỡi bạn và tôi, ta nhận ra nơi đó, có Xuân Mùa người đời vẫn cứ hát:

“Nơi ấy bây giờ còn có mùa Xuân?
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần.
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh,
Em có bao giờ thấu cho lòng anh”.

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)


Một lần nữa, ý tứ và tình tự của Mùa Xuân, là ý/tình cuộc đời, cũng rất “xanh”. Có dáng
nghiêng nghiêng nghiêng. Nụ cười gần. Có nai vàng. Ngời sáng, mắt tinh anh. Của anh. Của em. Nay cũng nhớ.
Không cần biết, anh hoặc em, có là bạn/là tôi, ta có gọi nhau. Coi nhau như người anh/người chị có Xuân không, thì Chúa Xuân muôn đời vẫn à Đấng có “nụ cười gần”. Có giọng hát trẻ. Như: “tiếng dương cầm”. Sáng, một tình xanh. Tinh anh. Mầu của biển. Của trời. Là, hy vọng ta đang có. Làm ta nhớ. Và thương. Thương nhớ Mùa Xuân. Mến Chúa Xuân.
Về nhớ. Về thương, lại cũng một lần từng nhắn nhủ ở lời ngỏ. Bên dưới:

“Em nhé, khi nào chợt nhớ mùa xuân,
Nhớ lá thư xanh, và chuyện tình hồng.
Nhớ nắng hanh vàng, nhuộm áo Hà Đông,
Anh ở nơi này, vẫn luôn chờ mong.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)


Anh và em sống ở nơi này, vẫn luôn mong chờ Chúa Xuân như chờ mong điều tốt đẹp. Hệt như thế. Chờ và mong, như lời nhắn của đấng thánh thời giáo hội tiên khởi, lại cứ bảo:

“Con hãy nhớ rằng:
Đức Giêsu Kitô
từ trong kẻ chết
Người đã Phục Sinh.
Chúa (ư) là ơn cứu độ chúng ta
Nguồn Vinh Quang muôn đời của ta, (à)!”

(Nhạc Hoàng Kim – lời thư thánh Phaolô gửi Timôtê 2: 8-11)


Nay nhớ Lời, hẳn người người vẫn nhớ nhiều, về sự sống. Nhớ cả nỗi chết. Sự sống lại. Cứ xảy đến với mọi người. Ở mọi nơi.
Nơi cuộc đời. Con người. Luôn có những gợi nhớ. Nhắn nhủ. Rất dễ thương. Ngoan cường. Quả quyết. Nhắn và nhủ, là Lời thân thương. Thuở trước. Rất trìu mến. Dặn dò. Điều sau đây:

“Thật! Thầy bảo thật anh em:
tôi tớ không hơn chủ nhà,
kẻ được sai đi, không hơn người sai đi.
Anh em đã biết điều đó,
nếu anh em thực hành,
thì thật phúc cho anh em!

(Ga 13: 16-18)

Gợi nhớ và nhắn nhủ, không chỉ như thế. Nhớ, là nhớ Lời Thương Yêu. Có nhắn và có nhủ. Nhắn và nhủ là lời nhắn, Thầy có thêm cả một quan niệm sống. Rất đúng đắn. Quan niệm ấy. Nhận định này. Là, những nhắn nhủ. Mọi thời. Như sau:

“Ứng nghiệm lời Kinh Thánh:
Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh
lại giơ gót đạp con.
Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này,
trước khi sự việc xảy ra,
để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu.”
(Ga 13: 19-20)

Vào buổi ấy, Hội thánh cũng có kẻ “giơ gót đạp con”. Những chống Chúa. Rồi, phản thần. Hôm nay, đồ đệ Chúa lại cũng gặp những kẻ/những vị từng hưởng “lộc thánh” từ đàn dân con của Đức Chúa, nay lại đã “giơ gót đạp” Hội (của các) thánh, bằng nhiều cách. Cung cách, mà người thời nay, hay gọi bằng ngôn từ rất nghe quen, như: “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tức, một hành động chống đối, ra mặt. Chống lại bạn bè người cùng bàn, ăn chung bánh. Vẫn lân la. Hưởng lộc. Từ nơi nhà Đạo. Từ, dân của Chúa.
Hôm nay, vào vườn nhà của Chúa để hưởng lộc thánh, qua câu ca/điệu nhạc, mà bạn bè vẫn đang tin hoặc không còn cậy vào Lời của Chúa, nữa. Qua ý/tình trong sáng. Tuyệt diệu. Của hồn Thơ, rất yêu kiều. Diễm lệ. Chợt thấy lòng mình về lại với “tình Xanh”. Bàng bạc. Lạc lõng rất nhiều vần. Nhiều điệu. Vần điệu, của thơ văn lạc lõng. Vẫn đó đây rải rác một đôi gai. Nơi hoa loài, ở đời thường. Còn lộ diện ngay nơi ấy. Nơi, hiển lộ nhiều phản kháng. Khích bác. Khuất tất. Dù cho họ có đứng trước vẻ đẹp của hoa mầu đủ loại. Được Chúa tạo ra. Gai ở hoa. Nhọn hoắt trong đời. Nay gây nhiều tai hoạ. Khiến người thưởng lãm thấy lúng túng. Ngại ngùng. Bức bách.
Chẳng thế mà, nghệ sĩ nhà ta, lại cũng viết:
“Trời Sàigòn chiều hôm nay
còn nhiều mây bay.
Nhiều đau thương
bi hận tràn đầy…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)


Vườn hoa Đạo, nay không còn là “khung trời Sàigòn” đầy bi hận. Nhiều mây bay. Như vẫn thấy. Thấy, những chông gai. Nho nhỏ. Nhọn hoắt. Nhức nhối. Thấy, gai nhọn vẫn châm chích hoa vườn nhà Đạo. Tạo rối rắm. Gai rối, thường thấy đó kể từ ngày có cơn hấp hối và nỗi chết của Thầy Chí Thánh. Suốt nhiều thời.
Gần đây nhất, ở thời hiện tại lại có những tên những tuổi rất nổi cộm, như Richard Dawkins với một “The God Delusion”. Một Christopher Hitchens, với “God is not Great”. Cả Sam Harris nữa, với “The End of Faith”. Toàn những gai nhọn chích rất đau, xảy đến từ ngày Đức Chúa chấp nhận cuộc khổ hình. Có nỗi chết. Rất nhiệm mầu. Rất cứu độ.

Gai nhọn hôm nay, rày đã gặp từ các văn nhân/thi sĩ gốc vô thần. Phản chống Chúa. Nhưng, người chống đối hôm nay, không thông minh. Cũng chẳng thuyết phục được nhiều người. Như, nhóm rối bời thời Trung Cổ, nhiều năm trước. Họ đúng là những người ăn-không-ngồi-rồi-tìm-giết-Chúa,. Bằng viết sách cho bè nhóm thuộc đám chống kình. Chẳng muốn tin. Vẫn chỉ thích ngồi nhìn thiên hạ múa may quay cuồng, rồi loan tin thổi phồng, hơn là kiếm tìm sự thật. Rất nghiêm chỉnh. Thế nên, gai nhọn châm chích vẫn khích bác người chân phương. Yếu bóng vía. Vốn hãi kinh, nên thiếu tự tin. Thiếu cả phương cách thích hợp để phản bác. Phương pháp cứu niềm tin, đang bị thử thách.

Thử thách trước gai nhọn châm chích nhà Đạo, nay không gồm gươm đao. Súng ống. Với hành hình. Mà là thách thức những điều đáng tin. Tin có Chúa hiện diện. Với người. Với mình. Không bằng sách vở. Nhưng, qua kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử có ghi chép. Lịch sử người Do Thái, có chứng cớ rành rành. Rất đáng tin. Sử sách nói về Đức Giêsu thành Nadarét. Đấng đã chết cho cả kẻ tin lẫn người không phục. Rất “tình xanh”.

Sử gia thời buổi trước, như Josephus của Do thái, như Tacitus của La Mã, là những người từng viết sử nghiêm túc. Đã ghi chép về hành động gian ác /bạo tàn của Nêrô, tay hoàng đế chỉ thích vui say nhảy múa, trước thành La mã bị đốt cháy. Để rồi, cứ đổ vấy cho người có Đạo, làm thủ phạm.

Ngay đến các sử gia La Mã như Seutonius cũng không quên chi chép về Đức Kitô Giêsu, Đấng đã hành trình qua Tibêriát được cả ngàn người theo chân. Khâm phục. Cho chí kẻ thù ngoài Đạo, vẫn đều rất tin. Đều công nhận Đức Kitô đích thực hiện diện. Với đời. Và trong đời.

Thêm vào đó, còn có tổng trấn Pliny thuộc Tiểu Á cũng nói đến Đức Kitô Giêsu. Và, những người Đạo Chúa. Sống hiền lành. Độ lượng. Rất dễ thương. Thêm vào đó, còn các chứng từ của Phúc Âm. Tức, những lời tâm phúc từ các kẻ theo bước chân mềm của Ngài. Vẫn rong ruổi đường trường, mà truyền bá. Và từ đó, những người nghe biết đều thấu hiểu Lời Ngài. Đều, tìm cách học hỏi thêm. Tất cả, đều xác chứng Đức Chúa, đã có thực. Không có gì phải ngờ vực.

Người người nay cứ tưởng: hễ con người càng khám phá được nhiều thứ trong quá khứ. Cả vật lý. Sức khoẻ. Và khoa học/kỹ thuật. Sẽ, bớt dần chuyện đã tin. Không như Richard Dawkins từng nhận định, các bản chỉ Ryland bằng giấy Papyrus bờ sông Nile, Ai Cập đã bao gồm nhiều chương đoạn nhắc đến Phúc Âm thánh Gioan, của thời trước. Và, các nhà kinh điển nghiêm túc cũng đã công nhận Lời Chúa trong Phúc Âm, ngay từ niên biểu 100, sau công nguyên. Xem thế thì, những người từng có mặt thời của Chúa, lúc còn sống, vẫn từng làm nhân chứng, xác nhận điều họ minh xác.

Quả thật, không nhà chú giải nào lại đã nghi ngờ việc Chúa hiện hữu nữa. Bởi, Ngài đã từng tuyên bố chính Ngài là Đấng Mêsia bằng xương bằng thịt. Và, ai biết Ngài cũng đều đã tin. Tin rằng, Ngài thực là Con Thiên Chúa.

Trên thực tế, không ai buộc ta phải tin hết mọi chuyện. Nhưng, lý trí bảo cho ta biết: ít ra, ta cũng nên tự hỏi: tại sao những kẻ tin vào Ngài, lại dám chấp nhận cả cái chết. Chết vì Đạo. Chết vì lý tưởng chưa được minh xác. Nhưng ít ra, họ cũng nhận thức được các lý lẽ, rất xác đáng. Nên mới tin. Điều cần nhớ, là: những người từng biết và từng tin Đức Giêsu. Đều đã sống với Ngài. Thấy Ngài chết đi. Và, sống lại. Tất cả đều chấp nhận ra đi vào cõi chết. Vui vẻ. Mãn nguyện.

Cuối cùng thì, có những người thông minh sống trên đời. Với cuộc sống, rất bình thường. Như đám dân chài. Như, người trước đây từng bách hại, các kẻ tin. Hoặc, ngay đến phường giá áo túi cơm. Bọn điếm đàng. Quân thu thuế. Nhất nhất, đều cùng chung một niềm, rất vững tin. Họ là những người không cười mỉa vào niềm tin, của người khác, như những kẻ chống Chúa. Phản thầy. Ở đây, chẳng có gì chứng minh rằng kẻ tin Chúa là những người ngu si, dốt nát. Thiếu hiểu biết. Ngược lại, họ cũng khôn ngoan. Sáng suốt. Vẫn say mê tin Chúa. Chứ không tin vào lời khoác lác có triết thuyết trừu tượng. Không tưởng. Của, giới vô thần. Phản Chúa. Phản thầy. Không đáng ta quan tâm.
Cuối cùng và sau hết, cũng nên diễn tả điều này, bằng lời thơ/ý nhạc của người ngoài, có lời hát:

“Những thành phố em sẽ đi qua,
Đây Ba lê, đây Luân đôn, đây Vienna.
Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua
Nhưng có đâu bằng Sàigòn mai sau
Em có mơ ngày hát câu hồi hương?”

(Ngô Thụy Miên – bđd)


Nay thêm một lời nhủ: nếu ta thử thay tên thành phố mình đã đi qua, bằng niềm tin mình vẫn có. Hẳn rằng, người người sẽ “hát câu hồi hương”. Hồi hương hay hồi hướng, vẫn là về với niềm tin, ta còn giữ. Về với tình thương ta trải dàn. Với mọi người. Thế cũng đủ. Bởi, tin là gì nếu không phải là yêu thương. Giùm giúp. Giúp, cả những người tin vào Đấng Ở Trên, lẫn vô thần. Phản Chúa.
Tin, là biết hát lời ca tuyệt đẹp mà nghệ sĩ trên từng nhắn nhủ, khi còn trẻ:

“Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân”
Nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ
Nhớ tiếng dương cầm, giọng hát trẻ thơ,
Có thấy bơ vơ, ngày tháng đợi chờ…”

(Ngô Thụy Miên – bđd)


Tin, là nhìn thẳng vào đời, có những người từng bảo cho mình biết. Từng kể cho mình nghe. Nghe, những truyện kể. Lễ mễ. Dông dài. Đầy ý nghĩa. Như sau:

“Truyện rằng:
Cô gái nọ, từng bị người mình yêu, bỏ đi về. Thấy buồn, cô ra ghế đá công viên, ngồi khóc lóc. Thảm thiết. Bỗng, có nhà hiền triết đến gần bên. Nhè nhẹ hỏi:
-Sao thế? Sao lại ngồi khóc một mình, khổ thế?
-Em chẳng hiểu tại sao người em yêu, sau một hồi cãi vã. Đã khích bác. Rồi bỏ đi.
-Cô thật khờ. Có gì đâu mà buồn với giận. Lại còn khóc!
-Sao không? Người em yêu, phản chống lại ý em. Rồi bỏ đi. Bác đã chê em khờ. Lại còn chỉ trích. Xin giải thích lý do vì cớ gì, lại như thế?.
-Này nhé. Bảo cô khờ, vì đời người chẳng có gì để ta cứ phải kéo dài cơn buồn giận, lẫn âu lo. Thực tình, thì kẻ buồn nhất phải là người ấy chứ nào là cô. Mất mát đây, chỉ là mất trong phút chốc. Mới chỉ mất đi, người không yêu mình. Còn người kia, có khích bác cô, bỏ đi, cũng vẫn mất đi một người hằng yêu mến hắn ta. Cô nhận ra điều ấy chứ?

Nghe giải thích, cô gái không trả lời, cứ lẳng lặng mà đi. Đi về nhà. Không còn bị dằn vặt bởi sự thể là: có những người đã không yêu không thích mình thì thôi, sao còn châm chích. Với khích bác?

Thời gian trôi qua, nỗi buồn người con gái cũng dịu bớt. Nhưng người kia, tức nhân vật chính trong vụ đả kích. Khích bác. Cả nhân sinh quan/lối sống của người khác. Làm như thế, càng khiến mình sống xa cách. Vò võ. Đơn độc. Tiếc một điều, là đã mất tình thương yêu. Quí mến. Từ những người, yêu quý mình.

Mất tình thương, là mất mát lớn không tái tạo được. Để, cuối cùng, người ấy nay cũng nhận ra rằng: điều quý giá trên đời, chẳng là chân lý/ý niệm, mình vẫn giữ. Rất khư khư. Những thứ ấy, cứ từ từ sẽ biến dạng. Với thời gian. Còn lại, một điều quan trọng là: biết nắm giữ hạnh phúc. Mình đang có. Hạnh phúc ấy, là tình yêu. Là, tin rằng: Tình Yêu, mới là tất cả. Và, tình yêu chỉ có được, nếu mình biết tin vào hạnh phúc. Vào Tình Yêu đích thực. Vẫn hiện diện. Trên đời. Chí ít, là tin rằng: Đấng Có, là Đức Chúa luôn thương yêu hết mọi người. Chính đó là Niềm Tin. Chính đó là Tình Yêu. Chứ không phải sự nổi tếng. Chống đối. Cãi cọ. Suốt mọi đời.


Truyện ở trên, hay hơn cả triết thuyết. Về cuộc sống. Bởi, sống ở đời, mà không có Tình Yêu. Hoặc, không tin vào Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, Đấng đang hiện diện với ta. Trong ta. Thì, cuộc đời cũng vô nghĩa. Người sống trong đời, mà lại không có niềm-tin-yêu, chẳng khác nào như đang chết. Nhưng vẫn thở. Thậm chí, có khi cũng không tin là mình đang hít đang thở, một Tình Yêu.

Trần Ngọc Mười Hai
Cầu cho Tình yêu ở mãi với mình và với người
để mãi mãi sẽ còn tin.
Tin Thiên Chúa là Tình Yêu.
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

GẶP THẦY, GẶP THUỐC

Đức Yên


Từ ít lâu nay, anh thường cảm thấy đau nhiều ở vùng ngực và vùng lưng, nhất là về ban đêm. Anh đã điều trị bởi nhiều loại thuốc, từ thuốc tây chuyển sang thuốc nam rồi thuốc bắc nhưng bệnh tình vẫn không mấy thuyên giảm, chưa kể đến những tác dụng phụ do thuốc gây ra.

Có bệnh thì vái tứ phương, nghe nói có thầy thuốc nào tài giỏi anh đều tìm đến. Lần trước anh từ nhà theo hướng nam đến với ông lương y họ Quách, trên đường đi Nha Trang tính từ ngã sáu phố thị, đi từ nhà là cách 10km. Nay muốn chuyển đổi nên đi về hướng tây, đến với ông thầy người Tày ở vùng Bình Nghĩa với cự ly y hệt là 10 cây số. Cứ vậy nếu đi xe thêm vài tiếng đồng hồ nữa sẽ sang đất Campuchia.

Những ngày tháng chạy chữa cho anh thêm kinh nghiệm, nghe tin lương y nào tài ba mình chỉ tin một phần nào đó thôi, không nên đặt cả niềm hy vọng để rồi thất vọng. Ví dụ như có ông thầy hứa hẹn với người bị tai biến nặng sẽ chữa khỏi trong 10 ngày, nhưng nội trú tại nhà thầy nhiều tháng rồi mà không khá hơn bao nhiêu. Một số người chữa trị ở những bệnh viện danh tiếng của thành phố nhiều năm liền, rốt cuộc nghe nói có ông thầy ở Bình Nghĩa trị được nhiều chứng nan y, lại lặn lội về miền rừng núi cheo leo hiểm trở này để thử nghiệm xem sao? Anh cũng đã từng khám nghiệm ở một bệnh viện lớn ở thành phố.

Lai rai chậm chạp là đặc điểm của ông lương y người Tày này, mọi người đều nhận xét vậy chứ không riêng gì anh. Xem bệnh án, bắt mạch , ông bốc thuốc từ 7g30 sáng đến 9g mới xong. Là người khách đầu tiên trong ngày, nếu anh đến chậm hơn chút nữa chắc phải mắc võng nghỉ trưa ở vườn nhà thầy ?

Ông thầy dặn phải kiêng thịt bò, thịt gà, bún, trứng, hành, cà chua, dưa muối, cá biển và một lô một lốc các thứ khác không nhớ nổi. Như vậy kiêng hết còn gì thầy ? Có những thứ ăn được chứ, ông cẩn thận ghi ra giấy và nhấn mạnh bằng cách gạch dưới chữ ăn được : hạt nêm, sả, tỏi, đường, thịt heo, cà rốt, khoai tây, su hào , rau cần, cải xoong, mướp đắng, đậu cô ve... Cá nước ngọt như cá lóc, cá trê, lươn trạch rồi những thứ khó kiếm như tắc kè kỳ nhông cũng ăn được (?).

Thầy bốc cho 5 thang thuốc để uống trong 10 ngày, trưa đó về đến nhà anh liền sắc thang thứ nhất. Hai ngày tiếp sau đó anh nằm chìm, mê mệt, đến hôm nay chỗi dậy anh bắt đầu sắc thang thuốc thứ hai. Đang hoang mang với chuyện thuốc men thì anh nhận được thư của Bảy. Bảy vẫn thường nói rằng trong khi đau bệnh, việc tìm gặp được đúng thầy, đúng thuốc là một điểu rất quan trọng, một ơn cần phải cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng ! Nhiều lần đi khám bệnh, thầy thuốc bắt mạch không đúng bệnh, hoặc tìm không ra bệnh, kê toa không đúng thuốc, lại cho uống bao vây mơ hồ rốt cuộc người bệnh vẫn khổ sở mà tiền mất tật mang. Thư Bảy viết :

“ Ngọc mến, xin Chúa cho Ngọc được ơn gặp thuốc. Ngọc nói đúng, không nên hoàn toàn tin vào thầy thuốc, họ cũng có giới hạn thôi. Năm ngoái, Chúa đã cho Bảy ơn gặp thuốc và được khỏi bệnh. Chuyện như thế này, Ngọc còn nhớ hồi dịp tết năm ngoái Bảy bị phong thấp rất nặng, chữa chạy nhiều nơi không khỏi, bệnh càng lúc càng trầm trọng. Một buổi chiều, hôm đó là ngày áp lễ Thánh Giuse, Bảy lên cơn đau nhiều, trong lúc đau cuống quýt Bảy liền chạy đến một vị bác sĩ gần nhà, mặc dù không còn tin tưởng lắm . Trong lúc chờ đợi ở phòng bệnh nhân, Bảy ngồi bên cạnh một chị phụ nữ, bỗng nhiên chị kể chuyện rằng bà cụ mẹ của chị bị phong thấp rất nặng, cũng đã chữa chạy nhiều nơi không khỏi, sau cùng bà gặp một loại thuốc , bà uống thì đỡ dần và nay đã bình phục. Bảy hỏi tên loại thuốc đó và tìm mua ở đâu ? Chị trả lời một cách dân dã, ở chợ Cam Phúc thiếu gì ! Hôm sau Bảy ra chợ tìm mua thuốc đó, thuốc có vẻ bình dị, lại rẻ tiền so với những loại thuốc Bảy dùng trước đây, Bảy uống thuốc đó thấy bớt dần và trong vòng một tháng thì khỏi bệnh .

Điều làm Bảy suy nghĩ là Bảy không hề hỏi thăm chị phụ nữ, do tự nhiên chị kể chuyện mà thôi.

Mới đây Bảy đọc thấy một câu rất hay : Thiên Chúa không trực tiếp nói với ta nhưng nhiều khi Ngài đã dùng những con người, những sự vật để ban tỏ ý của Ngài cho ta qua những hoàn cảnh xem như là tình cờ .

Chúa đã đáp lại lời cầu nguyện của Bảy qua sự bầu cử của Thánh Giuse. Xin cảm tạ Chúa và chia sẻ với Ngọc nhé. ”


HIÊN NGANG TRONG CHÚA

Lê Nguyễn


Thế gian là đấu trường Nơi đó con người và muôn vật đều phải tự đấu tranh để sinh tồn .Thiên Chúa đã cho Con Ngài là Giêsu đến trong thế gian ,Con Ngài cũng phải tự đấu tranh để tồn tại .Ngài đấu tranh điều gì? Đó là chân lý , là Tình yêu Và Ngài đã phải chiến đấu , bảo vệ và để cho chân lý ,tình yêu tồn tại Ngài cũng đã phải chết đau đớn trên thập giá và đã sống lại khải hoàn- Chân lý ấy không lạ với chúng ta Nhưng có điều là ai sẽ được vinh dự đồng hành cùng Ngài Chết cùng Ngài và sống lại cùng Ngài?
Trong thế giới hiện thực chúng ta chưa hình dung ra được Thiên đàng là đâu? Luyện ngục là đâu ?và hoả ngục ở nơi nào ? Vậy sao con người cứ phải hành thiện để làm gì ? Đó là một niềm tin đáng quý Nhưng hành thiện để được ..sống ở thế gian hay muốn được hoan lạc ở Thiên đàng hoặc là khỏi trầm luân nơi Luyện ngục Điều này còn là cả một vấn đề.
Có phải là trong mọi hoàn cảnh , dầu là ai và là chi, Con người vẫn muốn kéo dài sự sống của mình ở thế gian vì bất cứ lý do gì , Và nếu con người khi sinh ra và đến trong thế gian bằng tiếng khóc-Khóc vì phải làm người ,khóc như một sự nuối tiếc vì đã phải lìa bỏ nơi chúng ta đã từng cư ngụ Khóc vì phải vâng lời và uống chén đắng vì Cha ? Vậy thì tại sao khi chết chúng ta lại “cũng “khóc mà không vui mừng vì được trở về nơi chúng ta đã đến-Thiên Chúa chúng ta chắc cũng sẽ rất buồn và sẽ không hiểu chúng ta muốn gì khi chúng ta cứ muốn sống mãi ở “cõi tạm” mà không muốn về ,lại còn tử biệt sinh ly , đau đớn khóc lóc và luôn cầu xin khi gặp khó khăn về phần xác hoặc phần hồn nơi thế gian.Sinh ký tử quy chẳng phải là câu nói thường tình của cuộc đời này sao?Vậy sao còn phải bịn rịn chia tay quyến luyến nhau khi cảnh người đi kẻ ở . Những lời cầu nguyện của chúng ta thường thì đa số là mọi lời cầu nguyện về các nhu cầu của thế gian .Có mấy người muốn xin Chúa cho “mau” trở về…..

Tôi có được sự may mắn là người ghi nhận lại mọi lời cầu xin của mọi người tại một điểm hành hương để chuyển đạt đến Cha xứ hầu Ngài dâng lời cầu nguyện cho họ Có rất ít những lời cầu nguyện cần thiết nhưng có rất nhiều những lời cầu nguyện quy về cái lợi của thế gian Như là xin bình an,xin khỏi bệnh,xin khỏi chết ,xin khá giả,xin có điều kiện để “có” tiền Không nói thì chúng ta cũng biết Nhưng cái chung vẫn là sợ đau,sợ khổ và…sợ chết và muốn sống tốt hơn về vật chất Nhìn chung ai cũng sợ …chết

Vì cái chết không phải là một con quái vật há to mồm với những hàm răng lởm chởm để “nuốt” hết mọi hy vọng của chúng ta mà đó là một lối thoát duy nhất chúng ta được trở về nơi chúng ta đến Vui gì mà cứ xin được sống ,trong khi những kẻ liều mạng tự xử cuộc đời mình thì luôn bị lên án và phải nhận nhiều sự thiệt thòi của thế gian, thì chúng ta khi chấm dứt cuộc sống mình thì phải lo sợ Sợ gì ,phải chăng sợ phải trả lời với Chúa về mọi hành vi khi còn sống hay sợ phải từ giã những vinh lợi thế gian này Thật đúng khi chết đi, chỉ cái việc không còn hưởng được những thú vui thế gian ,từ bỏ người thân yêu, từ bỏ những cái đang được hưởng thì đã muốn rơi nước mắt ra rồi
Như vậy nếu nói là sự chết là một cứu cánh tất yếu để nhờ đó mà vượt qua để đến với Chúa ,phục sinh cùng Ngài thì e rằng chẳng có mấy người trong chúng ta lại dám đón nhận nó . Vả chăng khi chúng ta đang chịu đau đớn vì bệnh tật thân xác ,chúng ta có dám nói “ Lạy Chúa ,Lạy Chúa con xin chịu đau đớn thế này vì danh Chúa Xin hãy cứu cho con một linh hồn “chăng ? Hay khi chúng ta dám hy sinh vì anh em một quyền lợi nào đó Ta có dám nói “ Lạy Chúa con hy sinh những mất mát này vì danh Chúa ,Xin cứu cho con một linh hồn”…

Trong sách hạnh các Thánh ,nói nhiều đến sự hành xác của các Ngài để đền tội vì Chúa Đó là chân lý Cảm nhận về sự đau đớn Chúa đã chịu vì chúng ta,nhiều vị Thánh khi còn sống đã phải tự tìm đến những sự đau khổ nhất của con người để phạt tạ cho lòng nhân từ Chúa đã chịu vì chúng ta.Vậy mà đến giờ phút này chúng ta vẫn còn ham sống sao ? Chúng ta dám bỏ đi sự ham mê thế gian vì danh Chúa mà không dám chịu đau khổ cùng Ngài vác những thập giá phần xác theo Ngài lên đồi Cal-vê sao?
Tất nhiên bệnh thì phải chữa Chúng ta có quyền chữa bệnh để được khỏi bệnh Nhưng cầu xin cùng Chúa để vượt qua bệnh tật thì phải “một vâng theo ý Cha thôi “.Và phải luôi tự nghĩ rằng Sự sống chúng ta vốn là được trao tặng bởi Đấng ấy ,chúng ta không có quyền đòi hỏi gì với Đấng ấy khi Ngài lấy lại sự sống của chúng ta Vì thế khi đối diện với cái chết xin đừng đau buồn mà hãy hiên ngang trong Chúa Có một vài người may mắn nhờ lời cầu nguyện với Chúa và các Thánh được khỏi bệnh một cách kì lạ Sau đó lại “ăn mừng chia vui cùng nhau”mà lại không hiểu là phần đời đựợc trao tặng thêm là phần Chúa cho nhiều hơn và sẽ lấy lại nhiều hơn Được ban tặng thêm cái sống thì phải xứng đáng với cái vốn luyến quý giá ấy và càng phải hiên ngang hơn nữa trong điều mà được gọi là sống chứng nhân Đó là điều cần phải làm và Chúa cũng chọn người để ban tặng chứ không phải ai cũng được vì khi Chúa gọi ta về ,như người Cha thương nhớ con đang phải lưu đày,nhưngười Cha muốn đem chúng ta về để cứu vớt chúng ta quá nô lệ cho thế gian .Nếu có được thiên đàng thì vinh phúc Còn là luyện ngục thì cũng tốt vì ở nơi đó chúng ta sẽ không còn cơ hội để phạm tội mà chỉ là đền tội ,và vinh phúc rồi cũng sẽ đến mà thôi


BỘ QUẦN ÁO CŨ

Trịnh Tây Ninh


Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội, không chấp nhận thua cuộc, ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.

Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:
-Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
-Nhưng bố thích mặc bộ này!

Tôi bắt đầu cau có:
-Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.
Ông già buồn rầu, lập lại:
-Bố thích bộ quần áo này lắm.
Tôi cũng cương quyết:
-Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.

Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:

-Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.

Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.

Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.


LỜI CẦU NGUYỆN

Trịnh Tây Ninh


Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:
-Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.
Ngược lại ba hỏi:
-Con gái, tuy con còn bé nhưng con thấy ba chịu đựng mẹ như thế nào. Ba phải làm sao đây?

Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.

Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ông bà quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:
-Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta phải chia hai.
Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi?!!! Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện nói lời an ủi, thương hại cũng làm nó bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy cha và Kính mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn. Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi - có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, ba má tôi xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi khá hẳn. Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm bốn người vừa chụp ở tiệm.

Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

LẦN ĐẦU VÀ LẦN CUỐI

Vũ Thủy


Nghe xong cú điện thoại, khuôn mặt ông trùm Y lộ vẻ vừa mừng vừa lo. Ông tất tả khoác thêm cái áo sơ mi dài tay và cái quần tây màu đen, xách cái túi nhỏ ông thường đựng mấy cuốn sách nghi thức dọn mình cho những người hấp hối rồi bước ra đường dặn với bà trùm:

• Ở nhà cứ ăn cơm trước đi, có lẽ tôi sẽ về hơi trễ đấy!

Ông mừng là vì cuối cùng rồi cái gia đình ấy cũng chấp nhận để cho ông đến thăm chủ nhà; ông lo là vì có lẽ ông chủ nhà ấy đã gặp tình thế cấp bách lắm rồi.

Ra khỏi con hẻm ồn ào, ông trùm Y vội vã rẽ phải bước đi như chạy trên dãy phố người ta đang buôn bán tấp nập. Mải suy nghĩ nên ông đâm sầm vào một chiếc Honda ôm đậu bên lề đường. Ông phủi phủi đầu gối, miệng suýt xoa vì đau rồi tiếp tục bước vào một phố nhỏ yên tĩnh, khang trang.

Những ngôi nhà biệt lập với khoảng sân rộng phía trước, được xây dựng theo những lối kiến trúc rất cầu kỳ. Đến trước căn biệt thự có gắn tấm bảng bằng đồng ghi số 11, ông bấm chuông rồi đứng đợi với vẻ mặt đăm chiêu. Có tiếng dép lẹp xẹp, một người đàn bà mập mạp mặc bộ đồ gấm màu kem rất tao nhã bước ra mở cổng, người đàn bà này ông thường xuyên gặp ở nhà thờ giáo xứ. Bà lịch thiệp chìa bàn tay về phía ông:

• Xin mời ông trùm vào nhà!

Sau khi khóa cổng cẩn thận, bà quay lại mời ông đi theo mình. Họ đi qua cái sân rộng có đặt những chậu kiểng được cắt tỉa rất tinh xảo rồi bước lên bậc tam cấp. Ông trùm lặng lẽ theo sau chủ nhà vào một căn phòng khách bày biện sang trọng, khi tới cầu thang vị chủ nhà lại lịch thiệp chìa tay ra mời:

• Phiền ông trùm lên trên lầu, nhà tôi mệt nằm ở trên đó!

Hai người đi theo những bậc thang xoắn ốc, lên đến tầng hai họ đi qua dẫy hành lang hẹp và một căn phòng lớn đóng cửa kín mít. Người đàn bà dừng lại trước một căn phòng có ổ khóa ở cuối hành lang, bà lấy chùm chìa khóa trong túi áo ra mở và nói:

• Mời ông vào cho!

Cánh cửa phòng chỉ mở he hé, ông gần như bị đẩy vào căn phòng, có tiếng đóng cửa lại phía sau lưng ông. Không kịp suy nghĩ về hành động của bà chủ nhà, ông bị choáng bởi mùi hôi thối xông lên nồng nặc cả căn phòng. Có tiếng rên khe khẽ và tiếng cựa mình ở phía giường, ánh mắt ông dần dần quen với căn phòng tối đó. Ông đoán người nằm trên giường chính là kỹ sư Hoàng, người mà hôm nay ông được mời đến thăm. Ông trùm bước vội về phía giường, nói:

• Chào ông, tôi đến thăm ông đây!

Ông trùm không còn nhận ra được cái hình hài đang nằm trên giường này là ai nữa vì ông đang mong đợi gặp một người lịch lãm và đào hoa. Cái con người ấy giờ đây chỉ còn là một bộ xương trong một tấm chăn bùng nhùng. Đôi mắt của thân hình đó mở ra trừng trừng nhưng chúng mờ đục và nhìn vào khoảng không. Khuôn mặt đã bị biến dạng đi một cách đáng sợ--Mí mắt sệ xuống, cái mũi không còn, môi trên cũng không còn để nhe ra hai hàm răng trắng nhỡn. Đích thị là một người cùi! Ông phải kìm mình mới không phát ra một tiếng kêu sợ hãi, lấy hết can đảm ông cầu xin Chúa rồi ngồi xuống cạnh bệnh nhân, nhẹ nhàng hỏi:

• Tôi có thể làm gì để giúp đỡ ông lúc này?

Ông gần như áp sát tai vào miệng người bệnh mới nghe được ông ta nói một cách khó nhọc qua hơi thở đứt quãng.

• Ông trùm đấy à? Đã nhiều tháng qua tôi không tiếp xúc với loài người, tôi cô độc lắm. Không biết Thiên Chúa có tha thứ cho tôi không?

Rồi những giọt nước mắt trào ra ướt đẫm khuôn mặt người đàn ông đáng thương, ông trùm đưa tay định gạt nước mắt cho ông ta; nhưng ông ấy đã giơ bàn tay ngăn lại. Ông trùm lại giật thót mình khi thấy bàn tay ấy chẳng còn ngón tay nào cả. Ông hiểu ý người bệnh không muốn cho mình bị lây.

Ông đã có dịp được nhìn thấy các ma soeur chăm sóc cho bệnh nhân phong trong những lần cùng một số giáo dân trong xứ đi thăm các trại phong ở vùng Tây nguyên vì thế ông bình tĩnh rút khăn mùi-soa trong túi ra lau nước mắt cho người bệnh. Vừa nhè nhẹ chấm những giọt nước mắt trên khuôn mặt đã biến dạng ông vừa ôn tồn nói:
• Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho bất cứ ai ông à!

Sau khi cố chắp nối những câu nói đứt quãng của bệnh nhân, ông trùm hiểu rằng đã hơn tuần nay người bệnh này không đi lại được, mọi sự phóng uế đều tùy tiện. Người bệnh mấp máy đôi môi, cánh tay cụt giơ lên hướng về phía chiếc bàn con đặt ở đầu giường. Ông bước lại gần thấy trên bàn có một bình nước chỉ còn một chút dưới đáy và một lọ thuốc. Ông trùm nhận ra lọ thuốc này thuộc loại giảm đau cực mạnh vì cái lần ông bị đụng xe năm ngoái bác sĩ cũng đã kê đơn cho ông loại thuốc ấy. Cầm lọ thuốc trên tay, ông hỏi:

_Có phải ông muốn uống thuốc? Ông đang đau lắm phải không?

Người bệnh khẽ gật đầu, há miệng chờ đợi. . . ông trùm lại phát hiện ra bệnh nhân này đã bị mù hoàn toàn. Ông cảm thấy ruột gan đau thắt và chợt nhớ lại hành động của bà Hoàng, hành động ấy gần như là đẩy ông vào đây. Và cho đến bây giờ bà ta cũng chưa quay trở lại nữa. Nhìn căn phòng ông trùm cũng biết đã nhiều tháng nay nó không được lau chùi gì hết, ánh mắt ông dừng lại ở cây thập giá treo trên tường đầy màng nhện. Ánh mắt ông dừng lại đúng ngay nơi đôi mắt của Chúa Giêsu, một sự thúc giục mạnh mẽ khiến ông quay lại kéo tấm chăn lên định chăm sóc cho ông Hoàng. Ôi kinh khủng quá, tấm chăn ấy là để che lấp mùi hôi thối của nước tiểu và phân. tất cả từ nhiều ngày nay nó trộn lại đặc quánh chung quanh vùng bộ hạ của người đàn ông khốn khổ. Ông Hoàng cố sức đưa tay lên như định giật lại tấm chăn đắp để che đậy một sự lõa lồ kinh khủng nhưng bàn tay không có ngón ấy rơi thõng xuống giường một cách bất lực.

Ông trùm nhẹ nhàng phủ chăn lại cho người bệnh, ông chợt nhớ đến một chi tiết trong truyện "PAPILLON NGƯỜI TÙ KHỔ SAI": Papillon đã rán uống ly nước do một người cùi trên đảo "phân chim" trao cho khi mà anh ta nhìn thấy một lóng tay rụng nằm trong ly nước ấy. Anh ta buộc phải uống để lấy lòng những người trên đảo vì anh ta đang là một tên tù khổ sai vượt ngục. Sau đó người tù vượt ngục ấy đã viết hồi ký mà không thấy anh ta nói gì về việc lây bệnh cả. Ông cũng soát lại trên thân thể mình xem có vết trầy xước gì không, nhưng không có. Một lần nữa ông trùm lại nhìn lên cây thập giá đầy mạng nhện, một sức mạnh kỳ lạ khiến ông can đảm hẳn lên. Ông nhẹ nhàng đỡ bệnh nhân lên giúp ông ta uống thuốc rồi đặt nằm ngay ngắn trở lại giường.

Với một thái độ dứt khoát, ông trùm cởi phăng áo sơ mi và quần tây, bước vào toa-lét, ở đấy ông chỉ thấy một mẩu xà phòng đã cứng ngắc, một cái bàn chải đã cùn xơ và một cái xô đã bẹp dúm, cầm lấy chúng và bước ra bắt đầu dọn dẹp căn phòng. Bây giờ ông mới để ý đến một cái thố ở cạnh cửa, trong đó còn mấy ổ bánh mì đã khô cong và mấy lát xoài gọt sẵn đã thối rữa bốc mùi hôi thối. Ông gom rác rưởi đã tích tụ có lẽ từ nhiều tháng và hì hục chà rửa sàn nhà đến vã mồ hôi hột. Sau khi đã hài lòng với nền nhà sạch sẽ, ông xách túi rác và bình nước đã cạn xuống nhà tìm gặp bà Hoàng yêu cầu bà lấy cho ông một ít bông băng và cồn. Trong khi chờ bà Hoàng ông đi vào nhà bếp, chẳng thấy bóng dáng người giúp việc đâu, ông tự súc rửa sạch bình nước rồi rót nước đầy bình. Quay lại đón lấy các thứ từ tay bà Hoàng, ông hỏi bà lấy một hộp sữa rồi vội vã đem các thứ ấy lên lầu. Lục lọi trong ngăn tủ tìm thấy mấy bộ quần áo cũ rách và một cái chăn sạch, ông trùm trải chăn ra một góc nhà rồi quay lại giường bế thốc người bệnh vào toa-lét. Ông lột hết quần áo và cái chăn đầy mùi xú uế, tắm rửa sạch sẽ cho bệnh nhân sau đó đem ông ta đặt trên cái chăn sạch và nhẹ nhàng săn sóc vết thương cho ông ta. Lúc này ông trùm hầu như quên mất nỗi sợ hãi ban đầu, lòng ông quặn thắt một niềm thương cảm vô hạn cho một bệnh nhân cô độc và đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Vừa làm ông vừa lắng nghe lời bệnh nhân tâm sự với một giọng đầy hối hận và tự trách móc. Tất cả những thắc mắc trong đầu ông đã được hé mở, ông hiểu ra rằng trong căn nhà này cái bệnh sĩ còn đáng sợ gấp trăm lần bệnh phong cùi và nó đã giết lần giết mòn người đàn ông này trong chính cái nhà tù ông ta tự dựng nên cho mình suốt mười năm nay.

Ông trùm đã băng bó xong các vết thương, ông nhìn thấy những giọt nước mắt đang chực ứa ra hai bên khóe mắt của bệnh nhân, đôi môi ông ta mấp máy có lẽ là những lời cảm ơn chăng?.

Người bệnh có vẻ hồng hào hơn lên, chắc thuốc giảm đau đã ngấm và sự chăm sóc của ông đã khiến cho bệnh nhân có sinh khí trở lại. Ông ta trở nên nói nhiều hơn:

• Không phải tôi không biết căn bệnh này đã có thể chữa được! Nhưng khi bắt đầu nghi ngờ mình đã mắc bệnh này, tôi không muốn thừa nhận mình bị căn bệnh ghê gớm đó, tôi như lừa dối chính tôi. Đến khi tay chân tôi bắt đầu biến dạng, tôi không đủ can đảm đối diện với bất cứ ai kể cả vợ con mình và thế là tôi tự giam mình trong căn phòng này. . . Mấy lần tôi đã tìm cách tự giải thoát cho mình nhưng tôi vẫn thấy mình tồn tại. . .

• Mỗi đêm khi mọi người trong nhà đã ngủ hết, bà nhà tôi lên mở khóa và đẩy túi thức ăn bà ấy đã lén lút chuẩn bị sẵn vào khe cửa cho tôi và sau đó lại khóa lại như cũ. Chúng tôi không muốn người giúp việc biết đến sự có mặt của tôi trong căn nhà này. Tôi biết bà ấy cũng bị dằn vặt và đau đớn không kém gì tôi. Thật tội nghiệp cho bà ấy!

• Tôi biết thỉnh thoảng những tiếng động lỡ phát ra khiến người làm nghi ngờ thì bà nhà tôi cố làm cho họ tưởng rằng nhà có ma. . . rồi thì tự họ sợ hãi bỏ đi. Bà nhà tôi đã thay rất nhiều người giúp việc. . .

Ông Hoàng im lặng một lúc lâu, nhưng sự im lặng kéo dài suốt nhiều năm hôm nay đã được khai mở khiến ông không kìm được nữa:

• Một điều cay đắng cho tôi là các con tôi và bà ấy đã chưa bao giờ có ý định muốn đưa tôi vào bệnh viện, thậm chí họ cũng không có ý định dòm ngó đến cách sống của tôi trong căn phòng tối tăm này ra sao nữa. Tôi đã uống nước phông_ten suốt mười năm nay và đã sống như Rô-bin-sơn trên một hoang đảo ngay trong căn nhà đầy đủ tiện nghi của mình.

Căn phòng lại trở nên im lặng, nước mắt ông Hoàng ứa ra lăn dài trên má, ông ta định giơ tay nắm lấy tay ông trùm nhưng lại buông thõng:

• Bây giờ thì tất cả đã không còn quan trọng nữa rồi. . . Tôi ra đi là sự giải thoát duy nhất cho họ!

Ông trùm nhớ lại cách đây mươi năm, khi thấy vắng bóng ông Hoàng liên tục trong các buổi lễ chủ nhật, ông đã từng hỏi thăm bà Hoàng về ông ấy; nhưng bà Hoàng một mực nói chồng bà bận rộn công việc ở ngoại quốc. Tuy thế, ông vẫn có một dự cảm thế nào ấy về việc này. . .

Ông Hoàng lại chìm vào im lặng, thấy vậy ông trùm đi lấy sữa cho ông ta uống đoạn bảo:

• Ông chờ tôi một lát, tôi rửa sạch cái giường rồi quay lại với ông nhé!

Sau khi đã đặt ngay ngắn người bệnh trở lại giường, ông trùm lấy cỗ tràng hạt trong túi ra đọc kinh mân côi. Người bệnh yên lặng, ông trùm ngồi bên đọc kinh rất khẽ cho đến khi bệnh nhân ngủ thiếp đi, Ông khẽ khàng đặt cỗ tràng hạt trên ngực bệnh nhân rồi rón rén đi về phía cầu thang.

Trước khi ra khỏi phòng khách, ông hứa với bà Hoàng rằng ngày mai ông sẽ lại đến thăm chồng bà. Bà có vẻ rất ngại ngùng:
• Cảm ơn ông nhiều lắm! Tôi biết nói thế nào để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với ông đây? Tôi thì cứ yếu đau mãi chẳng làm được gì cho ông ấy cả. . .

Ra tới con phố lớn, ông trùm cảm thấy lâng lâng khó tả, ông vừa trải qua một trận chiến dữ dội nhất từ trước đến nay. Trong đầu ông đầy những tính toán cho ngày mai khi gặp lại ông Hoàng ông sẽ phải nói gì để khuyến khích ông ấy lãnh ơn hòa giải sau mười năm. Ông quên cả mình chưa cơm nước gì, mặt trời đã ngả bóng về chiều, chắc bà trùm đang nôn nóng chờ ông ở nhà.

Sáng hôm sau, trời còn ráng hồng ông trùm đã đứng trước tấm biển đồng số 11. Cũng những phép tắc như ngày hôm qua khi mở cửa, bà Hoàng chào ông và vồn vã mời ông ăn sáng. Nhưng ông sốt ruột từ chối và xin phép bà được lên thăm ông Hoàng ngay. Khi bà đã mở cửa, ông hỏi:

• Bà có muốn vào thăm ông ấy một chút không? Tôi nghĩ ông ấy yếu lắm rồi không còn được lâu nữa đâu. . .

Vừa nói ông vừa đẩy rộng cánh cửa cho bà thấy căn phòng đã sạch sẽ. Bà ngần ngừ một lát rồi lấy hết can đảm bước vào phòng khép cửa lại. Ông đến bên giường gọi:

• Ông Hoàng, ông có đỡ hơn chút nào không?

Không một tiếng cựa quậy, cỗ tràng hạt cuốn quanh mỏm tay cụt của bệnh nhân đặt ngay ngắn trên ngực, nét mặt ông ta thanh thản một cách kỳ lạ! Ông trùm ghé tai vào mũi người bệnh một lát rồi đứng thẳng lên:

• Ông ấy đi rồi! ! !

Lúc ấy, bà vợ mới tiến đến sát giường, nhìn vào thân thể bất động của chồng bà, chợt bà rú lên rồi té dụi vào người ông trùm. Đây là lần đầu tiên bà nhìn thấy khuôn mặt đã biến dạng của chồng và cũng là lần cuối cùng bà còn được nhìn thấy ông ấy.


KHÚC ĐÊM

Lê Miên Ca


Hoàng hôn dần tắt.
Đất trời tiến vào quỹ đạo đêm. Yên bình. Trống rỗng. Mỗi khi như thế tôi thường thèm muốn được ra ngoài, đi lang thang, thả mình vào mây gió. Mát mẻ tâm tâm tư. Tôi thích nghe những âm thanh dồn dập bao nỗi tất bật của thành phố về đêm để lấp đầy khoảng trống vô hình trong hồn mình.
Góc sống của tôi tách biệt với nhịp đập của lòng phố. Thường chỉ có những âm thanh của bàn phím nhạt nhẽo và lẽ loi. Riết cũng quen và không thể thiếu. Đó là điều may mắn. May mắn vì tôi bắt được dòng cảm hứng để trải lòng rồi gõ lên trên từng phím chữ. Cũng có những khi ngồi một mình với màn hình máy tính và trang blog trắng mới.
Lúc đó, hơi hướm và giai điệu của những ca khúc nhẹ nhàng dịu ngọt cũng không sao lôi kéo tôi quay trở lại với thực tại. Để lại lắng nghe, chấp nhận và không vật vã với chính mình.

“Tình đã như mùa thu.
Ngày qua tưởng như trong cơn mộng du.
Hạnh phúc những thửơ ấy nay qua rồi.
Một mình thao thức với đêm trôi.

Lắng nghe những đêm dài.
Từng đêm thao thức ru hồn say.
Khi xưa trên môi tình yêu dấu.
Bóng dáng thưở ấy nay còn đâu?

Ngày gió mang tình ta.
Người đi những đau thương bao ngày qua
Bằng những tiếng hát thổn thức trong đêm dài
Cuộc tình sao lắm những u hoài"

( Dạ Khúc)


Có ai đó hỏi tôi thường làm gì lúc đêm về? Tôi sẽ trả lời rằng tôi tồn tại, tồn tại như một thực thể bởi tôi là một thực thể. Tất cả cứ lặp đi lặp lại như thế. Không còn một tôi mang một điều gì đó đặc biệt.
Tôi đã lớn. Không còn cái tuổi dễ dàng trải lòng mình bằng nước mắt. Đã qua rồi những tháng ngày tôi vật vã khóc để rồi sẽ quên ngay. Nên tôi đành học cách chấp nhận. Chấp nhận sự thật. Mà sự thật thì luôn trắng trợn và đau đớn lòng người. Sự thật phũ phàng mà. Thôi. Cố chấp nhận để mọi thứ trôi xuôi theo dòng chảy cuộc đời. Vô định.

Gió sang mùa. Cái nóng mùa hè gay gắt. Làm mọi thứ dường như tan loãng rồi bốc hơi. Tôi đang cần một thứ gì đó bên cạnh, thổi mát lòng mình. Tôi đang khát khao như thế. Khát khao điều tôi chưa bao giờ có được. Tình yêu chăng? Hay là tình cảm con người trao cho con người? Cuộc đời đã dàn trải mọi thứ cho tôi. Nỗi khát đó bất tận. Trái tim tôi hiu hắt.
Nhiều đêm vắng tôi muốn phát điên lên với những suy nghĩ bế tắt. Tôi muốn hét thật to một mình trong phòng. Hoặc nhìn một ngôi sao mờ nhạt không màu bên ngoài của sổ bị ánh đèn thành phố bao trùm lại. Ngôi sao cô độc. Tôi nghĩ thế. Vì dường như nó giống tôi.
Đêm dài. Trắng xoá.
Sẽ mất bao lâu, bao đêm để nguôi ngoai những hụt hẩng không gì có thể bù đắp được.
Điệp khúc đêm của cuộc đời tôi thường diêm dúa và tẻ nhạt đến thế. Vô vị.
Còn được bao nhiêu đêm trong quá trình chấp nhận. Còn được bao nhiêu đêm trong quá trình quên lãng mà bản thân phải cố lọc lừa bản thân.
Không có câu trả lời nào cả. Không có câu trả lời nào vướng lại giữa lòng đêm đặc quánh nỗi cô đơn.
Tôi chết lặng trong tôi. Không để lại một lời trăn trối.
Khao khát ra đi lại tràn về. Thúc dục như một cơn mơ. Không hình thù. Quay quắt. Xoay vần. Tôi khát. Khát đời. Khát yêu thương.


ĐÔI CHÂN ÁNH SÁNG

An Thiện Minh


Chiều nay, trong căn phòng ấm cúng và đầy tráng lệ, một bữa tiệc thịnh soạn đang được dọn ra với nhiều thực khách. Trong đó, nhân vật chính là một Chàng thanh niên cao, khoẻ, rất điềm đạm và đỉnh đạc ngồi ngay giữa trung tâm. Chàng có đôi mắt hiền từ, đầy cương nghị và đặc biệt là rất sáng. Chính cái Ánh Sáng kỳ lạ ấy làm mọi chú ý phải hướng về. Nhìn vào đôi mắt ấy, bất cứ ai cũng cảm thấy có một cái gì đó đang thu hút lấy mình và trái tim của mỗi người đều nhận ra hình ảnh của mình trong đôi mắt quyến rũ tuyệt trần ấy.

Bỗng những tiếng ồn ào từ bên ngoài vang dội vào phòng tiệc, rồi một bóng người chạy nhanh vào ngơ ngác nhìn quanh tứ phía, theo sau là những tiếng chân và tiếng la ngăn cản của những người phục vụ. Chợt bóng người đó chạy ùa tới vị trí trung tâm, ngã nhoài xuống đất để ôm lấy chân Chàng thanh niên và bật lên bài ca thánh thót của loài chim bị vết gai đâm vào tim. Tiếng hát cao vút như sương trong, mang âm hưởng mộc mạc nhất của giọt hồng tinh tuý cất lên từ huyết quản quặn mình. Tiếng hát ấy như điệu ru của hạt bụi bao ngày mới nhận ra kiếp bèo bọt của thân phận và hiểu được ý nghĩa giá trị của trái tim hồi sinh.

Căn phòng chợt lặng im... Sự thinh lặng huyền bí giữa một bữa tiệc ồn ào. Tất cả mọi trái tim đều cảm thấy một nhịp rung ray rứt từ trong sâu thẳm, cho hiện về những đam mê mông muội mà dấu chân hanh hao đã từng một lần in đậm dấu ấn dại khờ. Những trăn trở một đời cũng bật lên câu đồng vọng thao thức hoà theo âm điệu của tiếng hát loài chim nhìn về tổ ấm.

Âm thanh bỗng ngừng lại như một giai khúc còn dang dở. Mọi người chưa kịp hiểu điều gì đang xảy ra. Bất ngờ bóng người đó đưa hai tay đặt sâu vào ngực mình, lấy ra một vật nhỏ bé đang rung và đặt lên đôi chân tinh trắng của Chàng thanh niên. Khi chạm vào đôi chân ấy, tức khắc một hương thơm ngào ngạt toả ngát cả căn phòng. Hương thơm lan tới mọi ngỏ ngách của những trái tim còn nhiều thăng trầm chông vênh, hương thơm làm người ta ngây ngất vì sự thanh cao huyền lạ.

Kỳ lạ thay, không ai còn thấy cái vật nhỏ bé lạ lùng và bóng dáng người ấy đâu cả; thay vào đó là một luồng ánh sáng rực rỡ phát ra từ chính đôi chân của Chàng thanh niên. Tất cả như tan biến trong Chàng thanh niên để kết tinh thành thứ ánh sáng tinh tuyền cho ngỡ ngàng mọi ánh mắt biết nhìn về Sự Thật.

Mấy ngày sau, người ta thấy Chàng thanh niên quỳ xuống giữa một bữa tiệc và lấy từ trong lồng ngực mình một vật nhỏ bé nhưng toả ngát hương thơm tự chính nó, thơm hơn muôn vạn tinh hoa quyện lại, lóng lánh và sáng hơn cả hào quang sao trời. Ánh Sáng chói chang đó làm căn phòng trở nên rực rỡ không cần bất cứ ánh đèn nào và mọi người trong phòng tiệc phải che mắt mới cảm nhận được. Rồi Chàng thanh niên nhẹ nhàng đặt Ánh Sáng đó lên đôi chân của các bạn hữu và nói: “Hãy yêu thương như chính Ánh Sáng này đã yêu”.

Từ đó, trên hành trình bước về Chân Thiện Mỹ, người ta nhìn thấy những bàn chân phát sáng một thứ ánh sáng huyền lạ của cái vật nhỏ bé từ lồng ngực mà Chàng thanh niên ấy đã trao ban và nhắn nhủ. Khi những bàn chân không còn phát sáng, hãy biết rằng bàn chân ấy đã đi sai đường và cần ánh sáng từ vật nhỏ bé huyền nhiệm ấy dẫn lối.
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bài được chuyển đến trang "Chút ngẫm nghĩ"

Được sửa chữa bởi dangngocan ngày 07.05.2010, sửa lần 1
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 06.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THẦN HỌC QUAN TRỌNG KHÔNG?

(Does Theology Matter?)

Trần Hữu Thuần dịch


Khoa học đã trở thành lãnh vực xuất sắc để chứng minh sự thành thực trí tuệ. Giả vờ biết những gì quí vị không biết là một trách nhiệm lớn trong khoa học; và thế nhưng, đó chính là cái sine qua non của tôn giáo dựa trên đức tin.
—Sam Harris

Các nhà vô thần mới lật mặt tôn giáo trong tình trạng xấu xa nhất của nó. Họ không quan tâm sử dụng một cách xử lý quân bình thiết yếu cho nền học thuật đích thực. Sử dụng các hình thái cực đoan nhất của tính tôn giáo rồ dại, họ cố gắng thuyết phục người đọc của họ rằng các tài liệu đáng ghét đó là tinh túy của đức tin. Những gì phần lớn chúng ta xem là các diễn đạt tôn giáo đáng chống đối nhất, cộng lại cho các người vô thần mới thành những gì các đức tin hữu thần là thế đó. Giống như các người chống đối tôn giáo của họ, các người vô thần mới cũng đóng cửa rút cầu cho việc đối thoại cởi mở với các nhà thần học cũng như các người chống Darwin ví như Henry Morris, Ken Ham, và Duane Gish. Harris than phiền rằng “chỉ có việc là không trò chuyện với một số người,” nhưng sau khi đọc hai cuốn sách của ông ấy và các sách của Dawkins và Hitchens, thật khó tưởng tượng được làm sao một cuộc trò chuyện thần học cởi mở với bất cứ ai trong số các người chỉ trích không thỏa hiệp đó có bao giờ có thể đạt kết quả bước đầu.

Không may thay, các người vô thần mới không cần chút nào hết liệu các nhà thần học có đọc sách họ hay không. Thực ra, họ thích không ai đọc. Họ không viết cho các nhà thần học nhưng cho đại chúng những người đọc không được thông tin về thần học. Dù sao, theo quan điểm của họ, thần học chỉ là một bào chữa chán ngắt, xoi mói cho sự trống rỗng và ngu xuẩn của đức tin tôn giáo. Tại sao lại phí thì giờ đọc thần học, nói chi đến việc nghiên cứu hoặc theo học một khóa thần học? Đã được huấn luyện để nhận ra những gì cấu thành “chứng cứ” đích thực, ba người chỉ trích thấy thực khó tin có người nào có thể chú tâm đến chuyện thần học đó.

Trong mỗi cuốn sách được xem xét, các nhà thần học được nói đến với sự mỉa mai độc địa nhất hơn cả mọi thứ. “Chắc chắn sẽ đến lúc,” Harris ghi nhận, “chúng ta sẽ nhận ra điều hiển nhiên: thần học giờ đây chỉ hơn chút ít một ngành của sự ngu dốt của con người. Quả thực, nó là sự ngu dốt có cánh” (173). Dawkins, về phần ông, nghĩ ông đã có chuyên môn đầy đủ để loại bỏ mọi thứ thần học đơn giản nhờ vào việc ông nằm trong lãnh vực khoa học. Các câu hỏi liệu Maria là một trinh nữ, liệu Giêsu trỗi dậy từ cõi chết, và thậm chí liệu Thiên Chúa có hiện hữu, giờ đây với ông chỉ hoàn toàn là các câu hỏi khoa học và xứng đáng có những câu trả lời hoàn toàn khoa học (58-59). Các phương pháp mà một nhà thần học tốt nên sử dụng “trong biến cố không chắc chắn rằng chứng cứ liên hệ đã có bao giờ thành khả dĩ, sẽ thuần túy và hoàn toàn là các phương pháp khoa học” (59).

CHỦ THUYẾT NGHĨA ĐEN

(Literalism)


Trong khi chuẩn bị luận giải về chủ thuyết bài hữu thần (a-theism), người ta trông mong các học giả và ký giả sẽ thực hành vài tìm tòi về chủ thuyết hữu thần (theism), để chắc chắn họ hiểu xác đáng những gì họ từ khước. Thật khó trở thành một người vô thần đủ thông tin và nhất quán mà không biết chút gì về thần học, nhưng ngoài nhiều dẫn chiếu châm chọc, không có dấu chỉ về bất cứ tiếp xúc nào giữa các người vô thần mới với thần học, đừng nói đến tìm hiểu nghiên cứu về chủ đề này. Sự lẫn tránh này có thể so sánh với những người thuyết tạo dựng từ khước tiến hóa mà chưa hề theo học một khóa sinh học. Họ chỉ biết có điều gì đó sai lầm với các tưởng tượng Darwin khùng điên đó, cũng như các người vô thần mới chỉ biết có điều gì đó chán nản và ảo tưởng về thần học. Chẳng cần gì phải tìm tòi tỉ mỉ. Hơn nữa, trò chuyện với các nhà thần học, đa số không phải là những người hiểu kinh thánh theo nghĩa đen, có thể sẽ thêm một chiều kích phức tạp cho văn chương của người vô thần mới có thể làm sai lạc tính hời hợt làm cho sách bán chạy.

Ngu dốt về thần học sẽ làm đơn giản các cuộc tấn công của các người vô thần mới chống những người đối nghịch tôn giáo cũng không có thông tin tương đương. Nó cho phép các chỉ trích của họ phù hợp, từng điểm một, với chủ thuyết cơ bản (fundamentalism) mà nó cố gắng loại bỏ. Quả thực, trong phạm vi rộng lớn của chủ thuyết vô thần đương thời, Dawkins, Harris, và Hitchens là hình ảnh thu nhỏ của chủ thuyết nghĩa đen cực đoan có tính khoa học gần như cùng một phương cách mà những người theo chủ thuyết cơ bản tôn giáo mà họ kết án đại diện cho chủ thuyết nghĩa đen cực đoan trong thế giới rộng rãi của tư duy Do thái, Kitô, và Hồi giáo. Sự giống nhau không phải do trùng hợp. Những người theo chủ thuyết nghĩa đen cả khoa học và tôn giáo chia sẻ niềm tin rằng chẳng có gì bên dưới bề mặt của bản văn họ đang đọc—thiên nhiên trong trường hợp khoa học, Kinh thánh trong trường hợp tôn giáo. Chủ thuyết khoa học, phiên bản của cộng đoàn khoa học về chủ thuyết nghĩa đen, giả định rằng vũ trụ sẽ trở nên hoàn toàn trong suốt nếu nó được thu gọn trong ngôn ngữ trung tính của toán học hay các thể loại khác của mô hình khoa học. Bất cứ linh tính về một điều gì sâu sắc hơn có thể đang xẩy ra bên dưới bề mặt của thiên nhiên, như tôn giáo và thần học xác định, là hoàn toàn hư cấu. Tương tự, các người chủ thuyết nghĩa đen tôn giáo giả định rằng sự sâu sắc hoàn toàn của những gì đang xẩy ra trên thế giới thực là để thành chứng cứ cho người tin thực sự và ý nghĩa bộc trực của các bản văn thánh. Vì thế chẳng có lý do gì để nhìn vào bên dưới của ý nghĩa theo nghĩa đen, hoặc nêu câu hỏi về ý nghĩa của các bản văn đó khi có trường hợp thay đổi đột ngột từ thời đại này sang thời đại khác. Cả hai phía tránh xa thần học.

Nhằm để những người đọc không có thông tin có ấn tượng rằng ông ấy đã ít nhất tìm hiểu một ít thần học, Richard Dawkins để lọt vào tên của nhiều nhà thần học nổi tiếng đương thời và thậm chí cung cấp một ít trích dẫn ngắn (147-50). Những các mẫu văn không có ý nghĩa đó không đủ để che lấp người theo thuyết tạo dựng tiêu biểu hơn và tâm trạng sai niên đại lịch sử mà ông đưa đến cho việc hiểu Kinh thánh và cũng như thần học của ông. Phiên bản hàm ý của chính ông về phương pháp thần học thì giống y khuôn phiên bản của “những người tạo dựng khoa học,” rõ nét trong vòng thần học về niềm tin của họ rằng, nếu Kinh thánh được cảm hứng bởi Thiên Chúa, nó phải là một nguồn đáng tin cậy của thông tin khoa học cũng như tâm linh. Sự khác biệt có ý nghĩa duy nhất mà tôi có thể nhìn thấy giữa Dawkins và các đối thủ tạo dựng của ông là rằng Dawkins xem Kinh thánh và thần học là các nguồn không đáng tin cậy của thông tin khoa học, trong khi các người tạo dựng không xem như thế. Chủ thuyết nghĩa đen không thỏa hiệp của ông không đâu hiển nhiên hơn trong việc nhấn mạnh đáng kinh ngạc của ông xuyên suốt Ảo giác về Thiên Chúa rằng ý niệm về Thiên Chúa phải được xem như là một giả thiết khoa học, phụ thuộc vào cùng các tiến trình kiểm chứng như bất cứ giả thiết “khoa học” nào khác. Ông không nghi ngờ gì rằng giả thiết này sẽ không đứng vững trước việc điều tra, nhưng quyết định liệu nó sẽ đứng vững hay không, không phải là một vấn đề thần học mà là “một vấn đề khoa học” (48). Tôi còn nhiều điều để nói về Dawkins và về giả thiết Thiên Chúa trong chương kế tiếp.

Trong việc xem xét Kinh thánh, Hitchens cũng chia sẻ với các đối thủ tôn giáo cực đoan của ông giả định rằng nắm bắt đầy đủ yếu tố của đức tin Kinh thánh đòi buộc rằng các bản văn thánh phải được hiểu theo nghĩa đen. Lý do khác nữa, nói ví dụ, ông có thể lập luận cách nghiêm chỉnh rằng vì các đối nghịch của các tác giả Phúc âm về niên đại, chi tiết về việc đóng đinh Đức Giêsu, và các chủ đề khác, bốn Phúc âm không thể tuyên bố là “bảo đảm siêu nhiên” (112). Ông hình như không biết rằng các chuyên viên luận bình Kinh thánh và các nhà thần học đã biết các sai biệt đó kề từ thời cổ, nhưng họ đã không phải là những người theo thuyết nghĩa đen đến thế để diễn dịch sự đối nghịch của các sự kiện không ý nghĩa đó như là các đe dọa cho giáo điều về cảm hứng Kinh thánh. Rối rắm cách riêng cho Hitchens là các tường thuật thời thơ ấu trong các Phúc âm Matthêô và Luca. Đa số học giả Kitô giáo ngày nay hân hoan với các tường thuật không thể phù hợp nhau trong sự kiện đó về việc sinh ra của Đức Giêsu, vì qua chúng hai người viết Phúc âm có thể giới thiệu các chủ đề thần học tâm tính đặc biệt mà họ trải dài suốt phần còn lại của Phúc âm của họ. Tuy nhiên, Hitchens không thể vượt qua được làm sao có người có thể khả dĩ coi chúng cách nghiêm chỉnh như là Lời của Thiên Chúa nếu chúng khác biệt nhau về sự kiện như vậy (111-12). Vì thế ông kết luận: “Hoặc giả các phúc âm là sự thực theo một nghĩa đen nào đó, hoặc toàn bộ thiết yếu là một sự lừa đảo và có thể là một điều không luân lý như thế đó” (120). Như thể nếu chừng đó chưa đủ làm các người đọc có học thức nhăn mặt cau mày, bất cứ dọ dẫm nào Hitchens đang cố gắng gây ấn tượng cho các học giả đều hoàn toàn biến mất khi ông nói thoáng qua rằng chính sự hiện hữu của Đức Giêsu cũng là “rất chi là nghi vấn” (114). Hitchens cũng phơi bày cho chúng ta biết rằng “các cuốn sách nền tảng” của chủ thuyết hữu thần “đều rõ ràng là truyền thuyết (fables),” và rằng, dưới ánh sáng nhận thức khoa học ngày nay về nguồn gốc của vũ trụ và nguồn gốc của các chủng loại, các cuốn sách nền tảng đó (giả định cách riêng Sách Sáng thế) và tôn giáo mà nó gợi ra cảm hứng đều ký thác cho “chuyện bên lề nếu không là không liên quan” (229)!

Ít nhà thần học ngày nay có thể nhận phương pháp của Hitchens về việc đánh giá sự xứng đáng của Kinh thánh theo tính đáng tin cậy khoa học của nó cách nghiêm chỉnh hơn họ nhận chủ thuyết tạo dựng khoa học từ đó Hitchens hình như đã rút ra phong thái luận giải Kinh thánh của chính ông. Sinh viên theo khóa nhập môn về văn chương Kinh thánh học cách vượt qua dễ dàng các đối nghịch đó, xem chúng như là cơ hội để khai phá các tầm mức sâu xa hơn của các bản văn thánh hoặc như một lời mời gọi nghiên cứu các quan điểm thần học khác nhau trong Kinh thánh. Vào lúc họ đã hoàn tất một khóa cử nhân tốt về văn chương Kinh thánh, hầu hết các sinh viên Kitô và Do thái giáo sẽ vượt qua được sự rối rắm ban đầu về các điều không chính xác lịch sử, việc đầy tội lỗi của các nhân vật trong Kinh thánh, và sự thô tháp của một số trong các hình ảnh của Thiên Chúa. Họ có thể đã vượt qua được ý niệm thơ ngây rằng cảm hứng Kinh thánh nghĩa là chính tả siêu nhiên—một điều gì Harris chưa khám phá ra được. Sinh viên có thể đã hoà giải với ý niệm rằng mặc khải chẳng có gì liên hệ đến việc truyền thông của thông tin khoa học và rằng thần học Kinh thánh về nguồn gốc không đối nghịch với khoa học Darwin. Trong lúc đó Hitchens vẫn còn ngoài cửa lớp học càu nhàu về tác quyền không phải Môsê (non-Mosaic) của Ngũ kinh (Pentateuch) (104). Và Harris vẫn còn đang phân vân làm sao một cuốn sách cho là “được viết bởi Thiên Chúa” (35) hay “có tác giả là Đấng Tạo dựng vũ trụ” rốt cuộc lại là “tác phẩm của những người đàn ông đàn bà chân đất đã nghĩ quả đất là bằng phẳng….” (45)

Vậy sự khác biệt quan trọng giữa người vô thần mới và người tạo dựng không phải ở chỗ một bên tuyên bố coi trọng khoa học còn bên kia không. Ít nữa cả hai đều thú nhận như vậy. Cũng không phải một bên trông mong Kinh thánh cung cấp thông tin khoa học còn bên kia không. Cả hai giả định văn chương cho là cảm hứng đó ít nữa làm được chừng đó. Đúng ra, sự khác biệt có ý nghĩa là rằng người tạo dựng xem Kinh thánh là nguồn đáng tin cậy còn người vô thần mới thì không. Nhưng điểm quan trọng cần ghi nhớ là rằng người vô thần mới cũng đặt các đòi hỏi theo nghĩa đen vào Kinh thánh y như những người cơ bản Kitô giáo và các tôn giáo khác.

Chủ thuyết theo nghĩa đen này làm thất vọng những ai muốn tránh lẫn lộn tôn giáo với khoa học. Nhưng chẳng ai trong các người chỉ trích của chúng ta cho phép sự phân biệt rõ rệt như vậy, và cũng trong chiều hướng đó họ nằm thoải mái trong phạm vi đồng hành với những người tạo dựng. Ví dụ, Harris nhấn mạnh rằng “cũng các đòi hỏi chứng cứ như vậy”—nghĩa là, cũng các tiêu chuẩn khoa học như vậy—phải được sử dụng để đo lường tình trạng sự thực của các mệnh đề tôn giáo như bao điều khác. Ông phân vân tại sao tất cả các người đọc Kinh thánh dốt nát không đần độn như ông rằng “một cuốn sách được viết bởi hiện thân toàn năng” lại thất bại trong việc trở thành “nguồn phong phú nhất về nhận thức toán học nhân loại chưa hề biết tới,” hoặc tại sao Kinh thánh chẳng có gì để nói “về điện, hoặc về DNA, hoặc về tuổi tác và kích thước thực sự của vũ trụ” (Thư cho một dân tộc Kitô giáo, 60-61). Trong ba mươi lăm năm dạy trình độ cử nhân, tôi chưa bao giờ gặp một trường hợp nào trong đó, ít nữa sau khi đã học một khóa thần học, một sinh viên có thể có khả năng đưa ra một than phiền hài hước như vậy. Nhưng Harris, giống như các người tạo dựng ông chối bỏ, và không giống như các sinh viên được thông tin về thần học, chẳng muốn dính líu gì đến bản văn cảm hứng mà thất bại trong việc đưa ra thông tin khoa học hữu dụng và chính xác.

Năm 1893, ngay cả Giáo hoàng Leo XIII rất bảo thủ, trong tông thư Providentissimus Deus , chỉ thị người Công giáo không bao giờ tìm kiếm thông tin khoa học trong Kinh thánh. Trên quan điểm này, Dawkins, Harris, và Hitchens đứng quá xa về phía bên phải của Giáo hoàng Leo. Họ có thể dễ dàng tránh được sự vụng về cẩu thả đó nếu họ quay lại nhiều thế kỷ và ghi nhớ lời Galileo. Vào thế kỷ thứ 17, người khổng lồ khoa học và Công giáo sốt sắng này, trong “Thư gửi Đại Nữ Công tước Christina” sáng chói, đã chỉ ra rằng các tác giả Kinh thánh có thể đã không nhằm phát biểu các mệnh đề chính xác theo khoa học về thế giới tự nhiên. Nếu điều đó là chủ ý của họ, sơ sót nhỏ nhoi nhất trong khoa học của họ có thể làm cho những người đọc thông minh cũng nghi ngờ về thông điệp tôn giáo của họ. “Từ đó,” Galileo bình phẩm, “tôi có thể nghĩ đó là điều cẩn trọng không cho phép ai chiếm quyền các bản văn Kinh thánh và ép buộc chúng bất cứ theo phương cách nào để xác nhận bất cứ kết luận vật chất nào là đúng, trong khi vào một lúc nào đó trong tương lai, ý nghĩa và các lý do minh chứng hay cần thiết có thể cho thấy ngược lại.” Thế nhưng thậm chí ngày nay các người thiên nhiên khoa học cũng không kém hơn những người nghĩa đen Kinh thánh vẫn còn diễn dịch các giáo điều và Kinh thánh tôn giáo như thể chủ đích của chúng là để giải quyết các rối rắm khoa học. Trước Galileo nhiều, De Genesi ad literam của Augustine đã khuyên người đọc Sách Sáng thế không nên băn khoăn với các câu hỏi về sự chính xác thiên văn, cũng không cố gắng bảo vệ sự chính xác theo nghĩa đen của các giả định vũ trụ. Ngược lại, những người không tin xem ra sẽ loại bỏ các bản văn Kinh thánh “khi họ dạy dỗ, kể lại, và đưa ra các vấn đề lợi ích hơn.”

Dĩ nhiên, với các người vô thần mới, đơn giản không thể có bất cứ “điều gì lợi ích” hơn. Nếu chân lý Kinh thánh không thể rút lại thành chân lý khoa học, thế thì nó không đủ điều kiện là chân lý trong bất cứ nghĩa nào. Và cũng cần biết rằng Dawkins, Harris, và Hitchens không phải là các người duy nhất trong những người vô thần mới trừng phạt các tác giả Kinh thánh vì đã không đưa ra khoa học của họ cho đúng. Ví dụ, triết gia Daniel Dennett, đọc Kinh thánh cùng một cấp độ theo nghĩa đen như những người tạo dựng, ghi nhận rằng sinh học tiến hóa không thể phù hợp với niềm tin Kinh thánh. Đối chiếu tình trạng đau buồn của thông tin khoa học trong Kinh thánh với thông tin của sinh học ngày nay, ông cố gắng làm cho chúng ta kinh hoàng để thú nhận với ông rằng “khoa học đã thắng và tôn giáo đã thua,” và rằng “ý niệm của Darwin đã lưu đày Sách Sáng thế vào ngục tối của huyền thoại kỳ quặc.” Ở đây một lần nữa chỉ vì ông chấp nhận phương pháp diễn dịch văn chương của thuyết tạo dựng mà Dennett có thể tuyên bố cách toàn thắng cho đến nổi sinh học tiến hóa đã phơi trần sách Sáng thế ra chỉ đơn thuần như một hóa thạch.

Nếu các nhà thần học chịu hợp tác đủ để giải quyết hiện trạng của “chứng cứ” và thông tin khoa học, các người vô thần mới gợi ý, lúc đó thần học có thể đáng được nhìn lại lần nữa. Như thế đấy, tuy nhiên, vũ trụ big bang và các khoa học sinh học đã đủ để thuyết phục Dennett, Hitchens, Harris, và Dawkins rằng các tiểu luận thần học về các chủ đề như là tạo dựng siêu nhiên hoặc tác quyền của Thiên Chúa về sự sống giờ đây đã lỗi thời. Vì các bản văn cổ và các diễn dịch thần học hiện đại thất bại trong việc cải tiến nhận thức khoa học của chúng ta, chúng ta có thể an toàn bỏ qua các bản văn đó. Với các người vô thần mới, do đó, hiển nhiên chính các vấn đề khoa học có thể mở khóa nội dung sâu sắc nhất của các bản văn tôn giáo cổ điển. Thế nhưng một trong các bài học đầu tiên mà sinh viên thần học phải học là rằng nếu họ thất bại trong việc hỏi đúng câu hỏi về bất cứ bản văn cổ điển nào, tôn giáo hay gì khác, họ sẽ lạc toàn bộ ý nghĩa của nó. Đó là một nguyên lý cơ bản của việc diễn dịch bản văn nói chung, và của phương pháp thần học nói riêng. Đọc Homer chỉ nhằm mục đích học hỏi thói quen bếp núc ngày xưa có thể nâng cao kiến thức, nhưng thể loại câu hỏi như vậy sẽ không dẫn chúng ta đến việc học hỏi bất cứ bài học nào về cuộc sống mà The Iliad và The Odyssey có thể dạy dỗ chúng ta. Bất cứ sự khôn ngoan nào trong các tác phẩm vĩ đại đó sẽ có thể bỏ qua chúng ta.

Cũng vậy, hỏi Côran hay Kinh thánh thông tin cho chúng ta về những việc chúng ta có thể tự tìm thấy chỉ cần nhờ vào lý trí hay khoa học có thể làm chúng ta lãng quên bất cứ sự soi sáng sâu sắc khả dĩ nào các sách đó có thể cống hiến. Công việc của thần học là bảo đảm rằng các câu hỏi của chúng ta với kinh thánh của bất cứ tôn giáo truyền thống nào sẽ hướng đến một cách nào đó để cho phép chính chúng ta bị thách thức và thậm chí bị lay chuyển ở tầm mức sâu xa nhất của sự hiện hữu của chúng ta bởi những gì bản văn có để nói. Nhưng một phương cách để ngăn chặn sự gặp gỡ như vậy là xử lý bản văn, như các người vô thần mới, trang bị với chẳng gì cả ngoại trừ sự tò mò khoa học hoặc, như chúng ta sẽ thấy về sau, các câu hỏi đơn giản về luân lý. Các tường thuật về nguồn gốc trong Kinh thánh nhằm mục đích đánh thức lòng biết ơn, khiêm nhượng, tin tưởng, và hy vọng trong các cộng đoàn mà các tường thuật đó được viết cho. Các người tạo dựng sai lầm khi đọc các câu chuyện về tạo dựng như là khoa học, nhưng ít nữa họ có thể lấy ra được một số các thách thức tôn giáo của bản văn không kể việc luận bàn sai niên đại của chúng. Nhưng các người vô thần mới thậm chí không thể làm được chỉ chừng đó. Họ chia sẻ cách đọc khoa học không hợp thời với các người tạo dựng, nhưng vì cũng điếc trước ý hướng chuyển hóa rõ rệt của các Kinh thánh, họ hoàn toàn tự làm mất năng lực như là các người diễn dịch đức tin Kinh thánh.

Các người vô thần mới, chẳng ai trong họ cho thấy tính chuyên viên trong lãnh vực nghiên cứu tôn giáo, đã một cách có phương pháp tránh các nhà thần học và các học giả Kinh thánh như là không liên quan gì đến thể loại hướng dẫn mà sách của họ nhằm cung cấp. Thay vào đó, họ đã có được tính chuyên môn của họ về nghiên cứu tôn giáo bằng giới hạn việc tìm tòi của họ gần như hoàn toàn với các người cấp tiến và phản ứng giáo điều mà họ cảnh báo chúng ta về những người này. Nhằm nắm bắt những gì thực sự là tôn giáo, các người vô thần hàm ý, tất cả những gì chúng ta cần tập chú vào là những kẻ cực đoan, diễn dịch nghĩa đen, hết sức bè phái, quan tòa dị giáo, và những tên khủng bố. Tôi ngạc nhiên sao họ bỏ ra ngoài lịch sử các đức thánh cha, trong đó người ta có thể tìm thấy một số ví dụ khiếm nhã nhất về sự xuống cấp tôn giáo. Các chuyên viên tự học của chúng ta về tôn giáo, ngược lại với hàng ngàn học giả khoa bảng và các giáo sĩ học thức mà họ bỏ qua, đang nói với người đọc của họ rằng các khía cạnh của đức tin xứng đáng được bàn đến chỉ là những gì những người cơ bản và tưởng tượng đã hướng sự chú ý của chúng ta đến.

Điều này không có nghĩa là các cuốn sách chúng ta đang xem xét không có điểm giá trị nào về nhiều lạm dụng do các tôn giáo và các nhà thần học đỡ đầu. Dĩ nhiên đã có như vậy, và phần lớn người đọc sẽ tự mình nhận ra đồng ý với các phán đoán tiêu cực về tính man di đi kèm tính tôn giáo nhân loại ngay từ lúc ban đầu. Vì lý do đó, việc kê khai các điều ác của tôn giáo trong các sách bán chạy nhất đó có thể có tính thông tin cho những người không phải là học giả. Nhưng người đọc có đủ quyền trông mong quân bình và công bình từ các ký giả và nhà khoa bảng. Họ không nhận được điều đó từ Hitchens, Dawkins, và Harris. Trong một ý nghĩa, điều này không phải đáng ngạc nhiên vì các tác giả không đưa tính chuyên viên học giả vào các chỉ trích của họ, và ai cũng biết sự ngu dốt về những gì người ta từ khước luôn luôn dẫn đến biếm họa.

Hậu quả là, vì công bình không quan trọng, các người chỉ trích của chúng ta dựa phần lớn vào sự bịp bợm mỹ từ, một phương cách rất không học giả để thuyết phục người ta, nhưng một phương cách nhại lại mọi phương diện tâm trí cứng cỏi của các chủ thuyết cơ bản đa dạng mà họ vay mượn. Rất ít khi, nếu có lần nào, họ mời người đọc kiểm tra bất cứ thứ gì ngoại trừ phía tồi tệ nhất của đời sống tôn giáo. Thực tế, cả ba tác giả đi qua các chỗ vặn vẹo để thuyết phục người đọc rằng không có phía nào khác hiện hữu. Không chỗ nào đau đớn hơn để nhìn ngắm cho bằng trong nỗ lực vụng dại của Hitchens tách rời thông điệp của Martin Luther King Jr. ra khỏi thông điệp của các tiên tri và Đức Giêsu. Nếu người ta thực sự tin rằng “tôn giáo đầu độc mọi thứ,” lúc đó thông điệp của King, điều Hitchens thán phục, phải bị tháo gỡ khỏi Kinh thánh cũng như lịch sử ghê tởm của tôn giáo và thần học.

Trong lúc đó, các nhà thần học đã biết về các điều ác của tôn giáo từ lâu lắm và với chi tiết đê tiện và chiều sâu nhiều hơn các người vô thần mới ít thông tin của chúng ta biết. Họ cũng đã trình bày nhiều phê phán ấn tượng về tôn giáo hơn các người sau này đã làm. Tuy nhiên, không để bị vượt qua, các người vô thần mới nghĩ cần phải nói vài điều tệ hại về môn thần học (hoặc những gì họ gọi là “không phải chủ đề” [non-subject]) và rồi liệng bỏ đi cùng với mọi điều khác thuộc về tôn giáo. Để hoàn toàn coi thường nó, Dawkins, Hitchens, và cách riêng Harris trước hết phải thuyết phục người đọc của họ rằng thần học là tên tòng phạm đáng chê trách nhất của sự tàn ác của tôn giáo. Sao lại thế? Đơn giản vì bằng cách dọn chỗ cho đức tin và niềm tin vào Thiên Chúa, thần học đã tạo ra khoảng không gian văn hóa và nhận thức để trong đó sự lạm dụng tôn giáo có thể xẩy ra. Phương cách hữu hiệu nhất để thế giới loại bỏ sự cuồng tín tôn giáo do đó là, trước mọi chuyện, đóng lại mọi ngóc ngách hợp lý cho đức tin tôn giáo. Loại bỏ thần học ra khỏi thế giới sẽ là một bước chính yếu trên con đường đến một thế giới không còn người cuồng tín. Một chương trình như vậy có thể so sánh được, dĩ nhiên, với việc loại bỏ lạm dụng tình dục bằng cách trước hết loại bỏ chính tình dục.

Lý do chính của sự khinh miệt của Harris với thần học là rằng thần học gia là những người đề cao thiếu trách nhiệm nhất của những gì ông gọi là sự khoan nhượng phóng túng cho đức tin. Một ví dụ hay, ví dụ mà các người vô thần mới bỏ ra ngoài theo chừng mực tôi có thể nói, là văn kiện của Công đồng Vatican II về tự do tôn giáo. Nền thần học đã tạo ra việc hình thành văn kiện đó, họ có thể chỉ ra, đề cao thể loại khoan nhượng cho đức tin là điều đã làm trỗi sinh biết bao nhiêu bạo lực tôn giáo gần đây của thế giới. Đơn giản bằng cách chấp nhận quyền cho con người đi theo mà không bị trừng phạt thứ tôn giáo theo họ lựa chọn, và do đó có một “đức tin,” thần học đã ban cho những kẻ cực đoan cơ hội giết người nhân danh các thần chúa của họ. Tuyên bố của công đồng, do đó, phải được xem chỉ là một diễn đạt thêm lên của nền thần học phóng túng, điều phải bị khiển trách về sự dai dẵng của tính tôn giáo quá mức độ bất cứ nơi nào.

Các người vô thần mới hiếm khi chú ý đến sự mỉa mai trong việc không nhân nhượng sự nhân nhượng tôn giáo (the intolerance of religious tolerance). Một bên, họ gợi lại các vụ án dị giáo quá khứ như là chứng cứ của điều ác của tôn giáo, nhưng bên kia, giờ đây họ lên án các người ôn hòa thần học là các những người tán thành tinh thần khoan nhượng. Hơn nữa, hình như họ không chú ý rằng cùng một sự khoan nhượng phóng túng đó trong lịch sử phương Tây hiện đại đã ảnh hưởng Giáo hội Công giáo thay đổi quan điểm về tự do tôn giáo cung cấp không gian văn hóa và tự do diễn đạt nhờ đó chính các người vô thần mới được phép trút ra các ý niệm nghĩa đen của chính họ. Thậm chí kiến thức mơ hồ nhất của sự phấn đấu đau buồn của nhân loại đi đến sự khoan nhượng và tự do tôn giáo có thể làm cho phần lớn con người ngần ngại trước việc đề cao việc không khoan nhượng với sự khoan nhượng (the intolerance of tolerance).

************

Khoa học, các người vô thần mới tuyên bố, giờ đây chứng tỏ rằng thần học không còn quan trọng gì nữa. Thế nhưng sự tôn thờ khoa học của chính họ song hành với các phiên bản ít co giãn nhất của thần học trong việc làm cho thế giới thu nhỏ lại hơn nó thực sự. Chủ thuyết khoa học với khoa học là những gì chủ thuyết nghĩa đen với đức tin. Đó là một phương cách thu nhỏ thế giới thế nào để làm cho nó trở nên điều khiển và vo tròn bóp méo được. Đó là một phương cách để loại bỏ sự lo âu có thể trỗi sinh từ việc gặp gỡ cởi mở hơn, can đảm hơn, và toàn thể hơn với huyền nhiệm. Động cơ chính của chủ thuyết khoa học là sợ mất quyền kiểm soát. Chúng ta có thể quan sát bản năng hẹp hòi hoạt động trong chủ thuyết nghĩa đen tôn giáo hiểu các bản văn thánh như thể mục đích của các bản văn đó là để cung cấp thông tin khoa học hoặc liệt kê các hành vi tình dục phải lẫn tránh. Và chúng ta cũng có thể thấy nó hoạt động trong thác lũ của sự co rúm lại mà các người vô thần mới phải cho qua nhằm lấy tôn giáo ra khỏi tay thần học và đặt nó vào các bàn tay vững chắc hơn của các nhà khoa học nơi họ nghĩ nó thực sự thuộc về. Các co rúm đó gồm có:

• Giảm thiểu, hoặc cố gắng giảm thiểu, toàn bộ dân số tôn giáo độc thần thành những người theo chủ thuyết nghĩa đen Kinh thánh, cực đoan giáo điều, trốn tránh thực tại, xuyên tạc, thủ phạm của nổi đau khổ nhân loại, và cuồng tín.
• Giảm thiểu vai trò văn hóa của thần học thành bảo hiểm có hệ thống cho lạm dụng tôn giáo.
• Giảm thiểu ý nghĩa của đức tin thành niềm tin không trí tuệ vào bất cứ điều gì không có chứng cứ.
• Giảm thiểu ý nghĩa của “chứng cứ” thành “những gì khả dĩ với khoa học.”
• Giảm thiểu toàn bộ thực tế thành những gì có thể biết được bằng khoa học.
• Giảm thiểu ý niệm về Thiên Chúa thành một “giả thiết” (Dawkins 31-73).


Dĩ nhiên, như các đối thủ của họ, các người vô thần mới tin tưởng hết sức rằng họ đang sở hữu hoàn toàn cái chân lý mà họ xem không cần thiết gì phải phơi bày các niềm tin của chính họ cho việc đối thoại cởi mở. Khi đối với chủ đề tôn giáo, các người vô thần mới phản chiếu các đối thủ cực đoan của họ trong việc giả định rằng họ đang sở hữu chân lý, hoàn toàn và không thể thay thế. Khác biệt hoàn toàn với những ai tự cho phép bị chuyển hóa dần dần bởi việc gặp gỡ đối thoại quan điểm của những người khác, các người cực đoan sợ rằng trò chuyện cởi mở cuối cùng sẽ dẫn họ đến việc làm mềm yếu mô đất cứng cát của sự chắc chắn trên đó họ tin rằng họ đang đứng. Ngoài ra, trong trường hợp của các người vô thần mới, cái bục giảng có thể không đứng cheo leo vững chắc trên lý trí thuần túy hay cởi mở cho chân lý như họ giả sử. Các chương tiếp theo cung cấp nền tảng xa hơn cho sự nghi nan đó.
Trần Hữu Thuần dịch

(Còn tiếp) Mời qúi độc giả đón xem TRANG VĂN số 06 – THIÊN CHÚA CÓ PHẢI LÀ MỘT GIẢ THIÊT KHÔNG ?
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 23.05.2010    Tiêu đề: re: Câu Lạc Bá»™ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÂU LẠC BỘ
SÁNG TÁC THƠ – VĂN CÔNG GIÁO






15/05/2010


Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Viết về Mẹ luôn là một đề tài hấp dẫn và lôi cuốn của những người cầm bút vì nó dạt dào cảm xúc và nằm trong tận sâu thẳm trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Trong TRANG VĂN 06 này những tâm tình về Mẹ vẫn là những nét hứng thú và gợi mở để những ý tưởng được tuôn trào song song với những cảm xúc về Tình Yêu Thiên Chúa và tha nhân.

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng con một món quà thật tuyệt diệu đó chính là Người Mẹ sinh thành ra chúng con. Xin cho chúng con biết trân trọng món quà vô giá này, biết sống thảo hiếu với Mẹ và sống xứng đáng là một người con.

Nguyện xin Chúa, Mẹ Maria, và Thánh cả Giuse chúc lành và tuôn đổ muôn Hồng Ân xuống cho TRANG VĂN 06 nhỏ bé này của chúng con.


Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo
Đồng Xanh Thơ Sài – Gòn


Kính dâng lên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse. Cùng kính gởi đến Qui Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả:

Hy Sinh & Chai Dầu Gió Gà Núi
Theo Vết Chân Mẹ & Vườn Hoa Dâng Mẹ Bồ Câu Trắng
Dìu Nhau Đi Trên Phố Vắng Trần Ngọc Mười Hai
Những Con Thiên Nga Bên Bờ Hạnh Phúc Hà Tường Vy
Mẹ ơi! Con Thương Mẹ Linh Xuân Thôn
Cánh Cửa Không Bao Giờ Khóa R Veritas
Ý Nghĩa Một Giấc Mơ Vũ Thủy
Nhìn Trời Trần Mỹ Duyệt
Thiên Chúa Có Phải Là Một giả Thiết không? Trần Hữu Thuần


Kính thưa Quí Linh mục, Quí Tu sĩ nam nữ, Quí anh chị em Vườn Ô Liu và Quí độc giả kính mến.

Đồng Xanh Thơ Sài Gòn mỗi tháng phát hành 2 kỳ vào ngày 1 và 15 hằng tháng. Rất mong nhận được sự ưu ái quan tâm của quí vị, đóng góp ý kiến xây dựng cho Câu Lạc Bộ Sáng Tác Thơ – Văn Công Giáo mỗi ngày được phát triển tốt đẹp theo đường hướng của Giáo Hội, cùng đóng góp bài vở cho TRANG VĂN của chúng ta ngày càng thêm phong phú, các bài văn xuôi của quí vị mang tâm tình ngợi khen Thiên Chúa, diễn tả Tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống, sáng Tình Chúa, đậm tình người đều được Câu Lạc Bộ trân trọng đón nhận.

Bài vở xin quí vị gởi về trước ngày 12 để phát hành số ngày 15 và trước ngày 28 để phát hành số ngày 1 tháng tới. Các bài được chọn sẽ đăng trên trang Đồng Xanh Thơ Sài Gòn của website www.dunglac.org và www.tamlinhvaodoi.net và được gởi đến các điện chỉ mail của các tác giả và của các độc giả trong nước và hải ngoại.

Bài vở xin quí vị gởi về:
Hoàng Thi Ca.
Email: dxtsaigon@gmail.com

Chân thành cám ơn quí vị


*********************

DÌU NHAU ĐI TRÊN PHỐ VẮNG


"Dìu nhau đi trong ánh sáng.”
(Phạm Duy – Thương tình ca)
Trần Ngọc Mười Hai

(Mt 5: 38- tt)


Nơi bạn sống, chỗ nào mà chả có ánh sáng. Có, bài tình ca, giống hệt nơi tôi ở. Giống ở chỗ: rất nhiều điều lạ. Lạ nước lạ cái. Lạ cả người thân. Rất gần. Nhưng, người người chẳng muốn sống. Cùng nhau. Với nhau. Một chút nào. Bởi, sống như thế cũng khá khó. Khó, như nghệ sĩ già từng hát:

“Nhịp chân, êm êm thánh thót.
Đừng cho, trăng tan dưới gót.
Chớ để mộng vỡ mơ tàn, dịu dàng
Đừng cho, không gian đụng thời gian.”

(
Phạm Duy – bđd)


Mọi sự đời, nhất nhất đều như “nhịp chân êm”. Như: “trăng tan”. “Dưới gót”. Chí ít, là như: “không gian đụng thời gian”, thật khó lòng. Khó, như chuyện bần đạo vừa gặp, ở đường về. Sau khi lang bạt kỳ hồ, chốn tình quê. Tìm quà cáp, gửi tặng người thân, dù chưa một lần, quen biết.

Buổi trời đẹp hôm ấy, bần đạo đã gặp một người bản xứ mũi cao da trắng, rất đàng hoàng. Vẫn lăng xăng đưa tặng người qua đường, tập sách nhỏ có giòng chữ: “Chúa đòi gì, nơi ta?” Đúng như bần đạo dự đoán, đây là sinh hoạt của nhóm “Nhân Chứng Đức Giêhôvah” (tức Jehovah Witness), vẫn “ta bà” chòm xóm, chốn mây bay. Trong Đạo. Ngoài đời. Vẫn kháo láo. Bàn thảo. Đủ thứ chuyện. Từ chuyện Đạo. Hội thánh Chúa. Của chính mình. Cho chí chuyện người. Cùng niềm tin. Khác chính kiến. Quyền lực. Rất sung sức.

Có điều lạ, là: tập sách chỉ muốn nói về điều “Chúa những đòi và những hỏi”, gồm tóm đôi câu thoạt nghe, đã thấy rầu. Và cũng chán. Như con gián. Tuy rất cần:

“1. Làm sao tìm ra điều Chúa đòi hỏi?
2. Đức Chúa là ai?
3. Đức Kitô là ai?
4. Sự dữ/ác thần là gì?
5. Đức Chúa muốn ta làm gì cho quả đất, rất địa cầu?
6. Nước Trời là sao?
7. Kề cận Đức Chúa, có cần cầu kinh.
8. Đời sống gia đình, làm Đức Chúa vui.
9. Làm tôi Đức Chúa, phải ở sạch.
10. Hành xử, là hành hạ một cư xử, Đức Chúa đâu nào đã thích.
11. Niềm tin và thói tật, những điều Chúa chưa vui.
12. Tôn trọng sự sống, bảo vệ tâm huyết.
13. Đi tìm lòng Đạo, một tôn giáo.
14. Nhân Chứng Đức Giêhôva, sống và làm việc như thế nào?
15. Trợ giúp mọi người thực hiện được ý của Chúa.
16. Phục vụ Đức Chúa, vẫn là sinh hoạt của bạn?”

(x. What Does God Requires Us? Watch Tower, Bible & Tract Society, Pensylvania)

Chán và rầu, không vì: ở đầu sách, có những câu: “Thông tin quan trọng của Kinh Thánh, tìm ở đâu?”, “Ai là tác giả?”, “Sao ta cần tìm đến với Kinh Thánh?” Tức, những điều mà nhóm Chứng Nhân Đức Giêhôvah vẫn thường nói. Và cũng hỏi. Nói và hỏi, những điều mà bạn và tôi, ít có thì giờ để rờ tới. Ít có thời gian, lan man mà thảo luận với người người thuộc mọi giới. Mọi tuổi. Ở nhiều nơi.

Chán và rầu, là vì: ở đây. Hôm nay. Có nhiều vị, cũng từng hỏi và từng nói. Về chuyện Đạo. Với luật đời. Vẫn liên quan đến đấng bậc bề trên. Ở nhà Đạo. Rất Công giáo. Về luật lệ quốc tế. Quyết cột buộc, các “đức thầy” nhà Đạo vào chốn nợ đời, đóng hộp.

Chán và rầu, vì các vị ấy, chỉ những muốn gán ghép/áp dụng các chương/đoạn nào thật lắt léo của luật đời. Cho nhà Đạo. Để rồi, đấng bề trên nhà Đạo, sẽ không còn cơ hội mà “dìu nhau đi trong ánh sáng” hầu dẫn đưa đàn chiên nhỏ. Cho đúng lối.
Chán và rầu, còn như nghệ sĩ đời, thường nói và hỏi bằng câu ca/tiếng hát, rất nhang nhác:

“Đưa nhau, vào cõi vô biên.
Có chim uyên, tình thiêng.
Hát ru êm, triền miên.
Đưa nhau, vào chốn không tên,
mặc đời quên.
Không bến,
không thuyền.
Hết câu nguyền.”

(
Phạm Duy – bđd)


Mới đây thôi, người ngoài đời lại muốn đưa “thiên-đàng-nhà-Đạo” vào chốn “không gian đụng thời gian” như nghệ sĩ già, đà mô tả:

“Dìu nhau, sang bên kia thế giới.
Dìu nhau, nương thân ven chín suối.
Dắt dìu, về tới xa vời. Đời đời.
Dìu nhau, đưa nhau vào ngàn thu.”

(
Phạm Duy – bđd)


Ngàn thu nay, với nhiều người, không còn là chốn niết bàn/thiên đàng hạnh phúc, nữa. Ngàn thu nay, người đời lại cứ kéo níu dân gian người người, về với cãi vã. Tranh giành. Thúc ép. Ngàn thu nay, đã thấy có vị lập lờ chuyện luật pháp. Những là, đánh lận con đen. Tôi rèn luật lệ. Ngõ hầu, đưa thiên hạ/vạn sự về chốn “nhất nhật tại tù…”. Chẳng ngại ngần chuyện xung khắc. Chém giết. Chém, bằng lời. Giết, bằng luật.
Ngàn thu nay, còn đó những là Lời của Chúa, từng báo trước:

“Các ngươi đã nghe bảo:
Mắt thế mắt, răng đền răng.
Còn Ta, Ta bảo:
đừng cự lại người ác,
nhưng nếu ai vả má phải ngươi,
thì hãy giơ má kia nữa;
và kẻ muốn kiện ngươi để đoạt áo lót,
hãy bỏ cả áo choàng ra, cho nó.”

(
Mt 5: 38-40)


Người thích đáo tụng đình, các vị bề trên, bên Đạo, nay không đòi “áo lót” của ai hết. Điều họ những đòi và hỏi, là mấy điều rất ít người ngờ. Cũng chẳng ai muốn thấy. Người thích chuyện “đáo tụng đình” nay thích đòi đấng “đầy tớ của các đầy tớ Chúa” phải tù đày. Rày khổ ải. Ngàn thu. Cho bằng được.

Người thích cáo thích kiện, như luật gia Geoffrey Robertson ở Liên Hiệp Quốc, những muốn giải thích lề luật theo thiên kiến, của riêng mình. Để rồi, cứ kiện và cứ đáo tụng đình chuyện không liên quan riêng mình Đức Bênêđíchtô XVI. Kiện và tụng, bằng lời lẽ lập lờ. Quyết cho Đức Giáo Chủ phải ngồi tù. Cứ cho rằng, Đức Giáo Chủ đã cả gan “bao che/bảo bọc” các giáo sĩ vướng mắc tội “lạm dụng tình dục”, với trẻ em.

Luật gia Robertson thích biện luận, rằng: tội của các giáo sĩ phạm pháp đáng được lên toà án quốc tế LaHaye, vì không chỉ có tính tư riêng, biệt lập. Nhưng, đã mang tính hệ thống. Phổ cập. Có tính toán. Vì thế, phải coi như tội ác. Kiểu Omar al-Bashir, nguyên Tổng thống nước SuĐăng.

Điều mà luật gia Robertson quên sót, là: nếu như thế, thì đương kim Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban-Ki-Moon và tiền nhiệm Kofi Annan, cùng các luật gia trong tổ chức quốc tế này, đều đáng bị giam giữ. Như ông muốn. Bởi, 6 năm trước đây, cũng Liên Hiệp Quốc đưa ra chính sách “không nhân nhượng” với bất cứ ai trong lực lượng bảo vệ hoà bình, của chính họ. Những người, từng dính dấp vào các vụ lạm dụng tình dục, với người khác. Dù còn trẻ. Hoặc lớn hơn.

Nội 7 năm, đã có đến 75 nhân viên trong đội ngũ bảo vệ hoà bình của Liên Hiệp Quốc dính dấp vào các vụ “lạm dụng tình dục”, ở nhiều nơi. Trong số những trường hợp như thế, các quốc gia cung cấp nhân sự cho Liên Hiệp Quốc, đâu nào ứng đáp đòi hỏi của cơ quan này. Năm ngoái, chỉ có 14 trong số 82 yêu cầu phải cung cấp thông tin về các tội phạm được gán ghép, là có hồi âm, mà thôi.

Về “lạm dụng tình dục” nơi hàng giáo sĩ, chính Đức Bêneđíchtô XVI đã đại diện cho Hội thánh nói lời “Xin lỗi!”, gửi đến nạn nhân và gia đình họ. Còn vị khác, như Thống đốc Rick Perry của Texas, nào đã nói gì. Dù, chỉ một lời nhận lỗi. Đối với nạn nhân. Với quốc tế. Bởi, ở nhà tù tiểu bang này thôi, đã có đến 12% trẻ vị thành niên bị nhân viên trại giam hoặc kẻ khác lạm dụng, rất trái phép.

Thêm một sự kiện khác: có người từng gửi thư lên một công ty bảo hiểm ở Mỹ, hỏi rằng: phải chăng Giáo hội Công giáo phải trả tiền thù lao/bảo hiểm cao hơn nhiều cơ quan khác, vì người của Giáo hội có nguy cơ phạm pháp, nhiều hơn người khác không? Câu trả lời từ cơ quan này, là: KHÔNG. Không phải thế. Đâu riêng gì Giáo hội. Đâu cứ gì, người Công giáo. Tin Lành. Hoặc, giới vô thần, không sư sách. Mới phạm nhiều.

Thật ra, vấn đề “lạm dụng tình dục” nên đặt theo cung cách khác. Cung và cách bảo rằng: ấu dâm đương nhiên là chuyện đáng gờm. Đáng tởm. Nhưng, có nên chăng tìm hiểu sự thiếu quân bình trong tính cách quyết định giữa người trẻ và kẻ chủ mưu, không? Có người lại hỏi: nếu trẻ đồng ý làm thế, thì việc đó có thay đổi đạo lý của hành động dục tình này không? Câu trả lời từ Đức Giáo Chủ, là: KHÔNG. Bởi, dục tính và dục tình là việc dành để cho hôn nhân, mà thôi.

Từ đó, có người cứ nghĩ và suy ra, là: mình có thể thực hiện chuyện tình dục bên ngoài hôn nhân/hôn phối, mà vẫn an toàn/lành lặn. Vì nghĩ thế, nên đời người không tránh được các sự thể mang tính bức bách. Rối loạn. Xà ngầu.

Nói gì thì nói, dục tính/dục tình, là chuyện dài, ở huyện. Những huyện có tự do sinh hoạt để sống. Và, hít thở. Những huyện, cứ chăm chăm đổ vấy mọi tội rất khăm, cho nhà Đạo. Cho hàng giáo sĩ. Hoặc, giáo dân hiền. Có lẽ, nay là lúc ta cũng nên đặt vấn theo cung cách hoàn toàn khác biệt. Đặt sao cho dung hoà. Tích cực. Và phấn chấn. Hơn là, cứ ngồi đó mà đổ tội. Để được lợi. Thứ lợi lộc, mà ít người nhận ra. Như tiền bạc. Tiếng tăm. Uy quyền.

Hỏi gì thì hỏi, có muốn giải quyết mọi bất bình và bất ổn, trong xã hội, có lẽ không gì bằng đề nghị, “ta về ta tắm ao ta”. Ao nhà, vẫn có văn thơ/âm nhạc tình người. Sẽ thích hơn. Thích dìu nhau. Trong yêu thương. Trong hy vọng. Dìu nhau vào chốn miền có chân. Thiện. Mỹ. Có cả chân lý. Nơi con người. Bởi, hy vọng là tình thương nhẹ nhàng. Nề nếp. Một giấc mơ. Như bao giờ.

Hy vọng, là thế giới rất đẹp. Đáng sống. Ở nơi đó, có tình người sống với nhau, nề nếp. Thương yêu. Đùm bọc. Đùm và bọc, không ô trọc, dục tình. Sống hy vọng, là sống trải nghiệm một cuộc đời có Chúa. Đức Chúa Phục Sinh, vẫn giúp mình thoát khỏi cảnh tình chỉ biết sống theo bản chất. Cơ năng. Rất xác phàm. Sống trong Chúa. Sống có tình cộng đoàn. Có tình Nước Trời. Ở đời.

Hy vọng, là mộng ước “dìu nhau đi trong ánh sáng”, có hồn Thơ. Âm nhạc, đầy dẫn dắt:

“Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng
Dìu nhau đi chung một niềm thương.”

(
Phạm Duy – bđd)


Hy vọng, là sự thể ổn định ở thế giới có tình thương yêu. Dàn trải. Thế giới, không gian dối. Lọc lừa. Điêu ngoa. Doạ dẫm. Nhưng, đã hiền hoà. Sống phải phép. Để làm cho vấn đề nêu trên được nhẹ nhàng, cũng nên tìm đến một vài truyện kể nhè nhẹ. Thanh thanh. Dù, không bố cục xuyên suốt. Khúc chiết. Mạch lạc. Như, truyện thường ngày, ta vẫn thấy ở đâu đó. Nơi đời người. Như sau:

“Lm John Tauler, một giáo sĩ chuyên chăm nguyện cầu. Luôn cầu và mong cho mình gặp người chỉ dẫn sống đời thanh khiết. Nhẹ nhõm. Chẳng bận tâm, một thứ gì. Dù, người đời gọi đó là dục tính. Dục tình.Hoặc, chăn gối.

Một hôm, nghe tiếng lương tâm réo gọi, vị linh mục bèn bước ra khỏi cửa hầu tìm kiếm vị quân sư ngoài đời/trong Đạo khả dĩ đem cho ông một tư vấn, rất khả thi. Nhìn ngang nhìn ngửa, linh mục chẳng thấy một ai ngoài ông ăn mày, áo quần rách nát, diện mạo bẩn thỉu. Hơi có mùi thôi thối, ở bên mình. Linh mục chào hỏi người khất thực, câu thông thường:
-Chào ông/bác. Ông/Bác may mắn. Khoẻ mạnh chứ?
-Tôi có ốm đau hay gặp rủi, đâu thưa ngài!
-Vậy, xin Ơn trên ban cho ông/bác mọi điều hạnh phúc.
-Cả đời, tôi chưa từng thấy khổ, bao giờ hết.
-Vậy xin hỏi: nếu Chúa bắt ông/bác xuống hoả ngục, có khổ không?
-Nếu bị thế, tôi sẽ ôm ghì vào người Chúa, cùng xuống luôn. Thà, sống nơi ngục thất có Chúa, hơn nơi nào tưởng là phúc hạnh, chẳng thấy Chúa đâu.
-Thôi thì thế này, xin ông/bác cho biết từ đâu tới, sao chưa gặp?
-Thưa ngài, tôi đến từ Thiên Chúa.
-Lạ nhỉ! Thế ông/bác tìm được Chúa ở đâu thế?
-Ở khúc quẹo cuộc đời, khi tôi bỏ rời của cải vật chất, rất dục tình.
-Thế, ông/bác là ai vậy?
-Tôi là Vua. Là, cha già dân tộc.
-Muôn tâu Đức Vua. Xin ngài cho biết vương quốc ngài hiện ở đâu?
-Vương quốc tôi, ở nơi tâm hồn. Đâu xa. Đó chính là hạnh phúc. Sâu xa. Đáng quý.


Thế đó, chốn thiên đình. Là, tình dân gian. Hạnh phúc. Rất thanh khiết. Đấy này, niềm hân hoan. Cha ban, mà không biết. Và, cũng chẳng nhận ra niềm vui. Cao sang. Hạnh phúc. Nằm ở bình yên. Vui vẻ. Ở tâm tư. Tâm tư ấy, sẽ vui vầy. Niềm an vui sẽ có, nếu mọi người biết quên mình, vì người khác. Quên, để sẽ không làm mọi người sầu đau. Khốn khổ. Chốn giữ giam. Tù tội. Không lối thoát. Bởi, dù có bon chen. Kiện tụng. Kết tội một ai, cũng chẳng làm người ấy khổ đau. U hoài. Mãi mãi. Nhưng, chính mình sẽ cảm nhận những đau buồn, ở trong tâm. Lâm râm. Suốt đời.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn cứ mong cho mình
và cho người
mãi mãi bình an.
Ở tâm can.



HI SINH

GÀ NÚI


Nhận được thư mẹ mà tay con run run! Những lá thư mẹ gửi cho con không nhiều vì con có thường viết cho mẹ đâu! Những nét chữ to nhưng không tròn như ngày xưa nữa. Tay mẹ đang run!
“Ý con đã quyết mẹ đành hi sinh vậy”.
Mắt con hoa lên và cổ họng nghẹn ứ. Chỉ một câu ngắn gọn thôi, nhưng đây là lần đầu tiên mẹ tâm sự với con về chính mẹ. “Mẹ đành hi sinh vậy”. Con đã nghe và đã đọc biết bao lần những câu nói tương tự nhưng, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Giờ đây chính con đã cảm nghiệm được nỗi hi sinh vất vả của mẹ. Đã từ lâu con vẫn biết rằng mẹ đã và đang hi sinh cho con rất nhiều, nhưng sao lúc này con thấy xót xa quá mẹ ơi!

Không xót xa sao được khi nghe chính mẹ mình nói lên hai chữ hi sinh. Dù vẫn biết rằng hi sinh cho con cái là một trong những hạnh phúc của mẹ. Mẹ muốn hi sinh những gì thuộc về mình để cho con được sống hạnh phúc. Con không dám bảo mẹ thôi đừng hi sinh bởi mẹ đã hi sinh rồi! nhưng phận con cái ai nào muốn… . Phải chăng đó là qui luật?

Hai chữ hi sinh gợi lên trong con biết bao tâm sự từ ngày thơ ấu cho đến hôm nay. Lần về những kỉ niệm này, một lần nữa con nhận ra những hi sinh của mẹ. Thế mà bao năm nay con vẫn an vui với quyết định của mình mà vô tình quên mất bóng mẹ đang lặng lẽ đứng sau lưng con. Mẹ ơi, con thật có lỗi.

Cảm ơn mẹ đã thức tỉnh con kịp thời. Càng nhận ra sự hi sinh con càng phải sống trọn vẹn hơn ý hướng đã chọn để không uổng phí những hi sinh của mẹ.

Giờ đây, dù không có nhiều cơ hội để ngồi chia sẻ những nỗi niềm của mẹ, nhưng con vẫn tin rằng những tâm tình của con – cũng như những dòng chữ này – dù không đến được với mẹ nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ đón nhận và đưa vào trong trái tim Người để mẹ con ta sẽ cùng gặp nhau ở đó.
Con của Mẹ
V.T Gà Núi



CHAI DẦU GIÓ

(
Cảm nhận trăm chữ)


Trước lúc đi xa, mẹ cầm chai dầu bảo : - Con mang theo, phòng khi trái gió trở trời. - Con thanh niên mà mẹ, không cần đâu ! Mẹ im lặng cho vào balô, tôi thoáng lắc đầu mỉm cười … Sáu tháng sau, trong lúc chuẩn bị ba lô để đi xa, tôi ngờ ngợ vì đụng phải vật gì cứng cứng. À ! thì ra chai dầu gió. Thời gian qua không một lần dùng đến nhưng hôm nay tôi lại muốn xức cho đầy mình, không phải vì trái gió trở trời nhưng để được sưởi ấm bằng tấm lòng mẹ quê.


THEO VẾT CHÂN MẸ

Bồ Câu Trắng


“Con chim nó hót trên cao
Nếu không có mẹ làm sao có mình
Con chim nó hót trên cành
Nếu không có mẹ thì mình làm sao ?”


Mấy câu thơ trên, nói lên sự cần thiết của một ngưòi mẹ, đến nỗi danh ngôn Pháp phải thốt lên một câu: “ Nhà không có mẹ như xác không có hồn vậy”.
Không có mẹ, người con cảm thấy thiếu thốn, thiếu một tình thương mà người khác khó bù đắp được. Không ai trong chúng ta lại không có một người mẹ, tình thương của người mẹ thì vô bờ vô bến. “Nước sông có thể cạn, núi xưa có thể mòn, nhưng tình mẹ đối với con không bao giờ vơi”.

Ai đã từng sung sướng vì có mẹ, thì khi phải mất mẹ, họ đau đớn và cô đơn đến chừng nào! Một người mẹ trần gian, dù có thương con đến đâu cũng chỉ có giới hạn của nó, thế mà nếu thiếu mẹ, thì giống như thiếu nửa cuộc đời.

Còn Đức Mẹ, Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa và Mẹ của mỗi người chúng ta,tình thương của các bà mẹ trần gian nếu so với tình thương của Đức Mẹ đối với chúng ta , thì có thể ví như giọt nước giữa đại dương, hay như hạt cát giữa bãi sa mạc.

Thiếu vắng một người mẹ trần gian chúng ta cảm thấy khổ, nhưng còn có thể chịu được, trái lại nếu chúng ta thiếu vắng Đức Mẹ trong đời mình thì không thể chịu được, và không thể chấp nhận được.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong một dịp gặp gỡ giới trẻ Âu Châu, Ngài nói rằng: “Một người Kitô hữu không thể là người Kitô hữu đúng nghĩa, nếu không phải là người yêu mến Mẹ Maria. Bởi vì với tình mẫu tử, Đức Mẹ đưa chúng ta đến con của Người là Chúa Cứu Thế duy nhất, Người sẽ ban cho chúng ta sức tăng cường và sự dịu dàng để phục vụ anh chị em mình. Lòng tôn sùng yêu mến Đức Mẹ, phải chiếm một chỗ đặc biệt trong con tim và đời sống của mỗi người , lòng yêu mến này không chỉ hời hợt bên ngoài , nhưng phải đi vào chiều sâu , nghĩa là noi gương Mẹ sống những tâm tình đã được chi phối cuộc sống thánh thiện của Đức Mẹ , để áp dụng vào cuộc sống của mỗi người chúng ta , không phải chỉ sống một ngày hay hai ngày …, nhưng là sống cho cả cuộc đời chúng ta”.

Đức Mẹ đã để lại cho chúng ta những bài học và gương sáng nào ?
Tin Mừng Thánh Luca đoạn 1,39-56, Ngài kể lại rằng : “ khi Đức Mẹ biết chị họ mình là bà Elizabeth đã mang thai được sáu tháng , thì vội vã vượt rừng núi để đến giúp chị trong những ngày sắp sinh nở . Và khi vừa nghe Đức Mẹ chào , thì Thánh Gioan trong bụng chị liền nhảy mừng chào đón …”

Ở đây chúng ta rút ra được hai bài học noi gương Đức Mẹ :

1/ Sống bác ái thật lòng , là biết quên mình để phục vụ anh chị em .
2/ Niềm vui chỉ được trọn vẹn khi biết chia sẻ cho người khác . Cũng như khi nói : ăn mừng hay ăn tiệc là nói đến “vui”, mà vui thì phải nhiều người cùng vui, không ai nói tôi vui một mình bao giờ_ chúng ta thấy có ít người thích uống rượu, họ chỉ cần một con cá khô, hay ít trái chùm ruột hoặc trái xoài gì đó…, và có ít người “đồng thanh tương ứng , đồng khí tương cầu” với họ thế là vui rồi . Niềm vui không dựa vào vật chất tốt hay xấu , ngon hay dở , nhưng niềm vui thật là biết yêu thương chia sẻ .

Thánh Gioan định nghĩa về Chúa : “ Thiên Chúa là đấng yêu thương”. Chúng ta cũng có thể áp dụng định nghĩa đó cho Đức Mẹ : “ Mẹ là niềm vui và yêu thương”.

Chúng ta thấy có Mẹ ở đâu thì có niềm vui ở đó . Như trong tiệc cưới Cana , nhờ Mẹ mà chủ tiệc và mọi người được vui vì có rượu ngon .

Khi Đức Mẹ đem Chúa Giêsu đến thăm bà Isave, Thánh Gioan vui quá nhảy mừng lên, còn bà Isave sướng quá cũng đã thốt lên: “ Phúc cho em là kẻ đã tin rằng: lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện…”. Và khi nghe những lời khen tặng đó, Mẹ khiêm nhường trả lời: “Linh hồn tôi ca ngợi Chúa, và lòng trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa”.

Ở đây chúng ta rút ra được thêm hai bài học noi gương của Đức Mẹ nữa:

1/ Chúng ta phải là niềm vui cho người khác bằng những cử chỉ bác ái yêu thương, yêu thương bằng lời cầu nguyện, bằng những việc hy sinh, bằng nụ cười, bằng ánh mắt thông cảm, bằng lời nói dịu dàng…. Ước gì sự hiện diện của chúng ta không làm ngăn trở và khó chịu cho người khác.

2/ Đức Mẹ đã quy hướng mọi sự về cho Thiên Chúa: Mẹ khiêm nhường thật, đã không nhận chút gì là của mình, nhưng tất cả đều do ơn Chúa ban mà thôi.

Chúng ta xin Đức Mẹ làm Nữ Vương cho cuộc đời của mình, để sống với Mẹ, theo gương Mẹ, và rồi sẽ được về trời với Mẹ, và như lời thánh Bernado, chúng ta dám xác tín với Mẹ:
“ Theo chân Mẹ con không lạc bước
Kêu cầu Mẹ con không thất vọng
Nhớ tưởng mẹ con không mê lầm
Mẹ chở che con không sa ngã
Nhờ ơn Mẹ con về tới bến.
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 24.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

VƯỜN HOA ĐỨC MẸ

Bồ Câu Trắng


Tháng năm về…, vườn hoa Đức Mẹ nở rộ trăm sắc hương hoa, từ thành thị tới nông thôn, từ các Thánh Đường lớn tới những ngôi Nhà Thờ bé nhỏ thân thương, từ người thành phố đến từng nông dân, tất cả mọi kitô hữu trong muôn màu sắc của những đóa hoa lòng kính về Mẹ mến yêu, Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đồng trinh, Mẹ của tất cả chúng sinh, Mẹ hiền, Mẹ đẹp, Mẹ là biểu tượng của tất cả các loài hoa, Mẹ là máng thông ơn Thiên Chúa đến với từng người con tin Mẹ.
[ Ai đó đã ví von Mẹ qua các đóa hoa thế này:
• Mẹ là hoa thủy tiên, sáng trong muôn đời…
• Mẹ tựa đóa hướng dương, tỏa ánh sáng mặt trời
• Mẹ thật lòng khiết trinh như bông huệ, bông sen
• Mẹ dịu dàng nhân ái như mộc lan thắm tình
• Mẹ đầy tình trong Chúa tựa trúc thủy xanh tươi
• Mẹ mến yêu nồng nàn như hoa hồng đỏ thắm
• Mẹ lộng lẫy huy hoàng tựa ngàn sắc đào mai
• Mẹ xinh xắn mỹ miều giống ngọc lan tố nữ
• Mẹ tỏa ngát hương lòng của dạ lý hương tinh tế
• Mẹ chung thủy một lòng như màu tím hoa bâng khuâng
• Mẹ từ ái phúc hậu tựa đóa mai khôi bền thắm lâu dài
• Mẹ đơn-sơ khó nghèo như ngàn hoa đồng nội
• Mẹ thân tình thân ái tựa hoa ti-gôn leo thành giàn
• Mẹ hiền lành dễ mến tựa các đóa hồng bạch,vàng ươm
• Mẹ mỉm cười ban phước như cam đỏ hoa cúc tàu lai.
• Mẹ sầu bi ôm thi hài Chúa, ôi! Màu tím buồn hoa sim.


Mẹ đau khổ thấy loài người tội lỗi, ôi! Hoa gai xương rồng
Mẹ Maria, hai tiếng thật gần gũi thân yêu với từng người kitô hữu chúng ta, chỉ nhờ ơn Mẹ chúng ta mới có thể đến gần với Chúa, được Chúa thương yêu. Người ta làm sao hiểu hết được tình Mẹ Maria, chỉ có thể diễn đạt mối tình bao la đó qua một bà mẹ trần gian, tấm lòng mẹ được biết bao thơ ca nói đến, điển hình cụ thể như bài hát: “ lòng mẹ bao la như biển thái bình…”; “ Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày…” ; “ Cây chuối sau hè”.
Ước chi mỗi chúng ta sẽ là một đóa hồng xinh ( một tràng Hoa Mân Côi ) đầy lòng yêu mến Mẹ chân thành, vì chỉ có lòng yêu mến mới có thể biến đổi con người tội lỗi xấu xa thấp hèn của chúng ta, để quy phục “ cải tà, quy chánh” thật tâm quay về làm con thảo của Chúa và Đức Mẹ được.
Mẹ không cần ta dâng những đóa hoa màu mè trần tục, những bó hoa hình thức bề ngoài mà trong lòng thì trống rỗng. Mẹ cần ta với bông hoa thật lòng yêu mến, bông hoa khiêm nhu ẩn sâu trong cõi lòng như chính những bông hoa mà con người đã ví von cho Mẹ. Vâng ! cầu mong chúng ta sẽ liên kết với nhau thành một vườn hoa lòng xinh thắm, để chúng ta dâng kính Mẹ Maria trong tháng năm của Năm Thánh Hồng ân 2010 này, và sẽ dâng lên Mẹ mãi mãi trong suốt cuộc đời của mỗi chúng ta.


NHỮNG CON THIÊN NGA BÊN BỜ HẠNH PHÚC

Tùy bút của Hà Tường Vy
(Riêng tặng những ai còn mẹ. Và để ghi nhớ tình thương yêu của cha mẹ trong ngày hiền mẫu, 9 tháng 5 năm 2010.)


Chiều về, những tia nắng cuối còn sót lại đang cố gắng xuyên mình qua những tàn cây dầy đặc tỏa ra những chuỗi sắc mầu sặc sỡ như những chiếc quạt khổng lồ đan lát khắp công viên. Giữa công viên là hồ nước trong xanh phản chuối những áng mây đang lãng đãng rủ nhau về chân trời vô tận, để lại trong lòng khách vãng lai những cảm giác thoải mái, bồng bềnh. Thinh không yên tịnh. Công viên lắng đọng và thanh bình. Thỉnh thoảng chỉ nghe vài tiếng chim kêu gọi đàn, hoặc tiếng khấy nước của mấy con cá tìm mồi dưới mặt hồ.

Tân ngồi một mình trên chiếc ghế đá, tận hưởng những giây phút thanh bình sau một ngày dài vất vả với đống việc chồng chất trong sở làm. Xa kia một thiếu nữ đang ngồi trên thảm cỏ trong tư thế thiền. Nàng nhắm mắt, hai tay để trên hai đầu gối. Toàn thân không nhúc nhích. Chắc lúc này tâm trí nàng cũng đang bồng bềnh trong cõi hư ảo, để cho cái sắc sắc, không không làm tan hòa những cuốn hút của sắc dục, của tham, sân, si. Và để cho lòng nàng trở nên yên hàn, sâu lắng. Quanh đây đó, một vài cặp tình nhân tay trong tay tản bộ quanh hồ. Hình như họ đang hạnh phúc lắm. Và hình như họ muốn tận hưởng những giây phút thần tiên ấy một cách trân quí, vì sợ rằng nếu để vuột mất, nó sẽ trở thành một luyến tiếc và hối hận. Qua những cử chỉ ấu yếm họ dành cho nhau, Tân cũng đoán được phần nào cái thu hút mãnh liệt, và sự quyến luyến gọi mời của tình yêu.

Bỗng dưng tiếng những con thiên nga đã khua động và xé rách bầu khí thinh lặng của một góc công viên. Những tiếng kêu gay gắt, và thách đố. Hình như chúng đang gặp những thử thách lớn mà bản năng tự vệ bảo chúng phải nhào lên, nếu cần phải tranh đấu để sống còn. Hoặc hơn nữa nếu phải hy sinh để bảo vệ đoàn con của chúng.

Thật vậy, quay lại phía có tiếng động, Tân thấy hai gia đình thiên nga, mỗi một gia đình gồm bố mẹ và 5 con nhỏ. Chúng cũng đang tản bộ hướng về bờ hồ, và đối thủ mà chúng nghĩ rằng có thể làm cản bước tiến, hay tệ hơn là làm hại những đứa con nhỏ bé của chúng là một cặp vợ chồng và con chó nhỏ. Con chó nhỏ gầm gừ định tiến lại gần những con thiên nga con. Ngược lại, hai đôi bố mẹ thì bằng mọi giá cố gắng bảo vệ đoàn con của chúng bằng những tiếng gầm thét và bằng những cái cổ dài vươn tới con chó nhỏ.

Hình ảnh những con thiên nga đang cố gắng bảo vệ cho con chúng, và hình ảnh những con thiên nga con rất vô tư, đơn sơ đang quấn quít bên bố mẹ chúng đã làm tan loãng những ý nghĩ về cuộc đời, về tình yêu đang vừa mới chớm nở trong tâm trí Tân, kéo chàng về một suy tư mới. Chàng tự hỏi tại sao những con thiên nga kia chúng thương con chúng đến thế. Tại sao chúng lại sẵn sàng chiến đấu, và có thể là nguy hiểm đến tính mạng để bảo vệ cho đoàn con nhỏ của chúng. Ai đã dậy chúng cái cảm tình thiêng liêng cao cả đó.

Những hình ảnh ấy lại gọi mời ký ức chàng về với những chương trình truyền hình mà chàng thỉnh thoảng vẫn xem về cuộc sống dã thú ngoài hoang dã tại Phi Châu, trong đó có những cảnh săn mồi nuôi con của những loài thú như sư tử, cọp, báo... và những con mồi của chúng là những con nai, ngựa, hoặc chồn, cáo. Nhìn những con vật bị bắt ăn thịt, Tân thấy xúc động, và bồi hồi. Chàng thầm nghĩ, để bảo vệ đàn con, hẳn rằng cũng đã có những con thiên nga bố hoặc mẹ đã phải chết dưới nanh vuốt của những loài thú dữ hơn và mạnh hơn.

Dòng chảy của tư tưởng lại dẫn chàng nghĩ tới những thai nhi bị giết vì tệ nạn phá thai. Ðiều mà chàng vẫn cho rằng đó là một vết đen to lớn của lịch sử nhân loại trong cái nền văn hóa sự chết hiện nay. Trong đầu óc Tân hiện về hằng triệu triệu thai nhi đã bị giết, đã không một lần nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Con số đã lên đến hằng chục triệu mỗi năm. Các em bị chết, bị giết bởi chính cha mẹ mình. Chính cha mẹ các em đã không muốn các em có mặt trên cõi đời này vì sợ rằng sự có mặt của các em sẽ làm cản trở những bước ăn chơi, sa đọa, và buông túng của họ. Vì sợ rằng sự hiện diện của các em sẽ làm giảm bớt, chia chác cái hạnh phúc nhất thời mà họ đang lao vào như những con thiêu thân trước ánh sáng mời gọi của đam mê, dục vọng. Và các em đã bị giết chết bằng nhiều cách rất tàn nhẫn và khủng khiếp. Em thì bị cắt nát từng mảnh. Em thì bị kìm kẹp nát đầu, vọt óc mà chết. Có em phải uống thuốc độc mà chết. Nhiều em còn thiếu may mắn hơn, sau khi đã chết còn trở thành món ăn cho những kẻ đã giết hại mình. Người ta đã ăn thịt các em.

Tân nghe như những tiếng kêu gào, đau đớn của hằng triệu triệu thai nhi ấy. Vì một em bé trong lòng mẹ sau 20 tuần lễ của cuộc sống là em đã biết đau đớn và quằn quại vì đau đớn. Và như vậy, thì những tiếng nấc oan nghiệt của các em đang vang vọng thấu trời xanh, và còn mạnh mẽ hơn tiếng bom đạn, tiếng súng nổ.

Tiếng những con thiên nga hay tiếng kêu gào của đoàn trẻ thơ vô tội đang xoáy vào tim óc, khiến Tân đưa tay bịt lại hai tai của mình như cố gắng ngăn chặn những tiếng kêu ai oán ấy. Chàng nhắm mắt lại không muốn nhìn cái cảnh hạnh phúc của những con thiên nga con đang được may mắn có cha mẹ bao bọc. Tâm hồn chàng bỗng chùng xuống đầy xúc động và cảm thấy kinh hoàng. Chàng tự nhiên thấy mình thật hạnh phúc. Hạnh phúc vì sự sống mà cha mẹ chàng ban cho chàng. Hạnh phúc vì được cha mẹ yêu thương và bao bọc chàng. Thương yêu và săn sóc. Cha chàng đã về bên kia thế giới, nhưng mẹ chàng vẫn còn đó, và vẫn yêu thương, coi chàng như một thằng bé Tân thuở nào.

Mặt trời đã khuất sau chân trời mờ xa. Màn đêm đang dần về, không khí bắt đầu xe lạnh. Và tiếng côn trùng đã bắt đầu trổi lên quanh chàng báo cho chàng biết cần phải về nhà. Cơn gió thoảng lùa vào tóc, phà hơi mát vào mặt chàng và đánh thức chàng. Tân đưa tay vuốt nhẹ mái tóc, và ôm đầu lầm lũi ra xe trở về.

Những áng mây bồng bềnh phiêu du trên nền trời trong xanh. Những tia nắng vàng xuyên qua cành cây, kẽ lá. Những đôi tình nhân tay trong tay thầm thì lời yêu đương. Những tiếng chim kêu gọi đàn. Tất cả đã để lại một nét đẹp tuyệt vời trong vùng trời ký ức. Nhưng có lẽ theo Tân, chỉ có những con thiên nga nhỏ kia mới phô diễn được nét hạnh phúc, vô tư nhờ vào tình cha nghĩa mẹ của chúng. Bất giác chàng thở dài: Vậy thì hằng chục triệu thai nhi bị giết mỗi năm chúng không có cha mẹ? Chẳng lẽ các em lại bất hạnh hơn những con thiên nga nhỏ bé bên bờ hồ kia đó sao? Tại sao cha mẹ các em lại không cho các em một cơ hội làm người? Tội lỗi! Tội lỗi! Thật là tội lỗi!!!

Hà Tường Vy


MẸ ƠI! CON THƯƠNG MẸ

Linh Xuân Thôn


Một cậu bé chạy đến bên bà mẹ đang chuẩn bị bữa ăn tối, cậu đưa cho bà một tờ giấy với hàng chữ cậu mới viết. Sau khi lau tay, bà mẹ cầm tờ giấy lên đọc :
- Cắt cỏ: $ 5.00
- Dọn dẹp phòng của con trong tuần: $ 1.00
- Ra tiệm mua đồ cho mẹ: $ 2.00
- Đổ rác: $ 1.00
- Dọn dẹp ngoài sân: $ 2.00
- Rửa chén bát: $ 2.00
- Tổng cộng : $ 13.00


Bà mẹ liếc nhìn đứa con đứng bên cạnh. Bà lấy cây viết, lật ngược tờ giấy lại và viết:
- Chín tháng mười ngày cưu mang trong bụng: Không tính tiền .
- Lúc con bệnh, mẹ lo lắng săn sóc cho con: Không tính tiền.
- Những đêm mẹ thức khuya chăm sóc và cầu nguyện cho con: Không tính tiền .
- Những đồ chơi, quần áo, thức ăn, nước uống mẹ cho con: Không tính tiền .
- Mẹ chỉ dạy và lo cho con học hành : Không tính tiền .
- Và Tình yêu của mẹ dành cho con: Không tính tiền .


Cậu bé đọc xong, nước mắt rơi trên má, cậu nhìn vào mắt mẹ và nói:
- Mẹ ơi, Con thương mẹ…
***
Bạn thân mến, Hằng năm cứ vào Chúa Nhật thứ hai trong tháng 5, người dân nước Mỹ lại kỷ niệm ngày Hiền Mẫu, ngày nhớ ơn mẹ: nhớ về ơn cưu mang sinh thành dưỡng dục; nhớ về tình yêu thương bao la, sự hy sinh cao cả của các bà mẹ dành cho con cái….
Trong ngày Hiền mẫu, chắc hẳn đã có những cuộc sum họp vui chơi ăn uống trong gia đình bên cạnh người mẹ thân yêu. Chắc hẳn đã có những cú phone của những người con xa nhà gọi về cho mẹ với những lời yêu thương thăm hỏi. Chắc hẳn đã có những cuộc thăm viếng, những bông hoa, những gói quà gởi đến mẹ để nói lên lòng tri ân, tình yêu thương đáp trả và sự quan tâm săn sóc của những người con dành cho mẹ …
Trong số những người mẹ hạnh phúc đó, cũng còn có biết bao các bà mẹ bất hạnh bị bỏ quên trong cuộc đời ….Có bà mẹ đang sống những ngày cuối đời trong cô đơn u buồn ở các viện dưỡng lão, có bà mẹ đang lê lết cuộc sống trong thân xác bệnh hoạn ở các nursing home. Các bà mẹ này sau 1 đời hy sinh cho con cái, họ vẫn còn tiếp tục hy sinh trong tuổi già sức yếu, họ vẫn còn đang sống nhưng dường như đối với con cái, họ có vẻ như là người đã chết rồi …. Trong nỗi cô đơn bất hạnh đó, họ thèm 1 lời thăm hỏi, họ thèm 1 câu nói yêu thương :
Thương mẹ đi
Lúc nầy đây mẹ còn đang sống
Đừng đợi chờ ngày mẹ khuất bóng
Khắc lời ngọt ngào trên đá vô tri
Lời thật ngọt nhưng đá thì lạnh lắm !!!
Nếu đang nghĩ đến mẹ : những lời dịu dàng đầm ấm,
Nói đi con, đừng đợi khi mẹ ngủ yên
Giấc ngủ ngàn năm cõi chết vô miên
Mẹ sẽ chẳng còn được nghe con nữa!
Và con ơi ! chút tình yêu nhỏ bé
Cho mẹ đi, lúc còn ở thế gian
Biết không con, dù một chút muộn màng
Đối với mẹ, ôi vô vàn trân qúy ...

(
Người mẹ vô danh)


Khi nói đến công ơn sinh thành dưỡng dục của người mẹ trần thế, chúng ta cũng không thể không nhắc đến người mẹ trên trời: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và cũng là mẹ của mỗi người tín hữu.

Ngày 13 tháng 5 năm nay là ngày kỷ niệm 90 năm (13/5/1917 - 13/5/2007) ngày Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với 3 trẻ chăn chiên tại một làng quê nghèo Fatima trong nước Bồ-Đào-Nha. Trong tất cả các lần hiện ra, Mẹ đã nhắn nhủ mời gọi mỗi người chúng ta “ Hãy cải thiện đời sống ” và “ Hãy siêng năng lần hạt mân côi ”

Vào năm 1981, cũng vào ngày 13 tháng 5 tại quảng trường thánh Phêrô, Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II bị mưu sát bởi 1 tay súng chuyên nghiệp có tên là Ali Agca. Ngày và giờ của cuộc mưu sát tại quảng trường thánh Phêrô trùng hợp với ngày và giờ của cuộc hiện ra tại Fatima. Quả là sự trùng hợp bí ẩn nhiệm mầu. Cuộc mưu sát đã được chuẩn bị rất chu đáo bởi 1 tay súng chuyên nghiệp, nhưng cuộc mưu sát đã không làm hại được giáo hoàng. Viên đạn đã đâm vào ngực của ngài, nhưng nằm cách quả tim vài centimét.

"Trong tất cả những gì xảy ra cho cha vào ngày hôm ấy, cha cảm nghiệm rõ ràng có bàn tay che chở, có sự lưu tâm đặc biệt của Hiền Mẫu Thiên Quốc. Đức Mẹ minh chứng rõ ràng rằng Đức Mẹ mạnh hơn viên đạn có sức giết người!"

Đó là 1 câu ngắn trong tâm tình cảm nghiệm của đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II khi nói về cuộc mưu sát. Còn tay súng giết mướn thì nghĩ gì? Chắc hẳn anh ta đã hiểu được rằng: Vượt lên trên khả năng giết người của mình, còn có một quyền lực khác lớn mạnh hơn nhiều!!!
***
Lạy Chúa, Năm tháng hạnh phúc nhất đời con là những năm tháng con được nằm trong vòng tay yêu thương ấp ủ của người mẹ. Xin cho con luôn biết trân trọng và mang trong lòng tâm tình biết ơn là con có mẹ : Mẹ trần thế và Mẹ Thiên Quốc. Amen
Linh Xuân Thôn


CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ KHÓA

R. Veritas


"Cánh cửa không bao giờ khóa", đó là tựa đề của câu chuyện có thật mà văn sĩ Robert Stain đã kể lại.

Câu chuyện xảy ra tại nước Scotland về Cristout một cô gái quê trẻ. Cô ta cảm thấy chán chường trong cuộc sống gia đình nề nếp. Cô đến thưa với cha mẹ:
- Con không muốn tin ông trời của cha mẹ. Con quyết định ra đi khỏi nhà.
Thế là cô bỏ nhà ra đi. Tuy nhiên, chẳng bao lâu cô bị người ta chê cười và ruồng bỏ vì không tìm được việc làm, cô đã phải làm nghề đứng lề đường bán thân nuôi miệng. Thời gian trôi qua, cha cô đã qua đời trong sự buồn chán và xấu hổ vì đứa con gái hư đốn của mình. Mẹ cô ngày một già nua. Còn cô thì mỗi ngày một sa đọa trong lối sống hư đốn của mình.
Sau đó bà mẹ cũng bặt tin con. Rồi tin đồn về cuộc sống xấu xa của con gái. Bà đã đi tìm con khắp thành phố. Bà đến từng nhóm cứu trợ với lời thỉnh cầu:
- Làm ơn cho tôi treo tấm hình này.
Ðó là tấm hình của bà đang mỉm cười kèm theo dòng chữ: "Mẹ vẫn mãi yêu con. Mẹ mãi chờ con. Về nhà với mẹ đi con, con gái của mẹ".
Vài tháng sau đó, một ngày nọ cô gái đến chỗ một toán cứu trợ nhận bữa ăn tối. Cô chẳng màng chi đến những lời khuyên răn của những người hữu trách. Lơ đễnh nhìn tờ thông báo cô chợt nhận ra tấm hình của mẹ cô với hàng chữ đầy thương mến như nài van cô hãy trở về với bà, cô vội đứng lên xem rõ bức ảnh và cô bật khóc.


Khi trời đã nhá nhem tối, cô quyết định trở về nhà nơi cô đã ra đi từ lâu. Về tới nhà thì trời cũng vừa hửng sáng. Cô sợ hãi khép mình bên cánh cửa và băn khoăn không biết phải nói lời nào với mẹ. Nhưng rồi cô quyết định khẽ gõ cửa, cô nhận ra cánh cửa chỉ khép lại chứ chưa khóa. Cô nghĩ chắc có trộm vào nhà. Lo lắng, cô chạy vội tới giường ngủ của mẹ và thấy bà vẫn đang ngủ yên. Cô đánh thức mẹ và thưa:
- Mẹ ơi, con đã về.
Bà vùng chỗi dậy như không tin ở mắt mình. Nước mắt lăn dài trên gò má đã hom hem của bà, bà vội ôm chầm lấy cô con gái như sợ cô sẽ vuột mất. Cô gái cố bình tĩnh nói với mẹ:
- Mẹ ơi, con lo quá, cánh cửa không khóa, nên con tưởng ăn trộm đã mở cửa để lẻn vào nhà mình.
Bà mẹ dịu dàng nói:
- Không phải vậy đâu con. Từ ngày con đi thì cánh cửa nhà mình chẳng bao giờ khóa cả.


*****
Thế giới có biết bao những bài hát, lời thơ, những câu ca dao, câu hò câu ví, những câu chuyện nói về tình mẹ. Và đối với người Việt Nam chúng ta thì tình mẹ càng thể hiện cách đậm đà và khắng khít hơn, bởi tình mẹ bao giờ cũng tinh tuyền, vô vị lợi, diễn tả gần hết tình yêu tinh ròng của Thiên Chúa. Nhận ra tình thương của người mẹ đã sinh ra chúng ta, chúng ta cũng được mời gọi sống quảng đại và yêu thương hơn. Có nghĩa là tâm hồn chúng ta luôn rộng mở để đón nhận người khác như cánh cửa phòng sẽ không bao gờ đóng để đón chờ người con hoang trở về.

Một trong những yếu tố nổi bật của tình yêu và cũng là con đường dẫn chúng ta đến tình yêu đích thực là biết tha thứ và chấp nhận những khác biệt của tha nhân. Những khác biệt đó có thể bao gồm cả những ưu điểm lẫn khuyết điểm, nhưng những ưu khuyết điểm này không thể nào trở thành những hố sâu ngăn cách con người, nếu con người tự do đón nhận những khác biệt của người khác. Biết rằng đây là điều căn bản để tiến vào thế giới của yêu thương, nhưng cũng là đoạn đường cam go nhất mà chúng ta phải bước qua. Nhưng chúng ta tin rằng Chúa đã đi qua đoạn đường này rồi và Ngài tiếp tục đi bước trước để dẫn chúng ta đi sau, để chúng ta giảm bớt thái độ dè dặt và mạnh dạn bước đi, để chúng ta nhìn về phía trước, bám chặt vào Chúa Giêsu và phó thác nơi Ngài. Với sức mạnh của Thánh Thần Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ đạt đến bến bờ của tình yêu chân chính và hoa trái đích thực của nó là lòng quảng đại vị tha.
Lạy Chúa,
Xin dẫn chúng con bước theo đường lối Chúa.
R. Veritas


Ý NGHĨA CỦA MỘT GIẤC MƠ

Vũ Thủy


Đêm qua tôi vừa nằm mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Trong giấc mơ, tôi trở lại là một cô bé khoảng 13, 14 tuổi đang ngồi học bài. chợt tôi ngước nhìn lên qua cửa sổ, xa xa là cánh đồng lúa chín, xa hơn nữa là khu rừng rậm rạp, trong khu rừng ấy có một đám lửa khổng lồ đang tiến dần về phía rẫy lúa chín rộ của gia đình mình. Tôi sợ hãi khủng khiếp, lòng quặn đau thắt vì nỗi lo cháy hết lương thực thì lấy gì mà ăn. Tôi chạy lại gần cửa sổ, nhoài người ra khỏi khung cửa và cầu cứu:

-Chúa ơi, xin cho mưa đổ xuống trên cánh đồng lúa của con!

Tự nhiên tôi thấy mình bình tĩnh lạ thường và lại tiếp tục học bài, trong khi mắt tôi vẫn nhìn qua cửa sổ. Lạ lùng thay, khi đám lửa khổng lồ đến gần rẫy lúa của gia đình tôi thì một cơn mưa rào ập tới. Đám cháy tắt ngúm, bầu trời trở nên quang đãng.

Rồi lại có đám lửa khổng lồ từ xa tiến đến nhanh một cách khủng khiếp như muốn nuốt chửng rẫy lúa nhỏ nhoi của tôi. Khi nó đến sát rẫy lúa, cơn mưa rào thứ hai lại ập xuống làm nó tắt ngúm. . . Lúc ấy tôi thấy có nhiều người chạy qua chạy lại phía trước, xôn xao bàn tán về đám cháy, tôi la lớn:

-Chúa đã cứu giúp chúng tôi, Chúa đã cho cơn mưa đổ xuống đúng lúc để cứu chúng tôi!

Mọi người tỏ vẻ hoài nghi nhưng tôi vẫn khẳng định với họ như vậy lần thứ hai. . .

Tôi bừng tỉnh và nhận ra mình vừa trải qua một giấc mơ. Tôi bấm đồng hồ và nghe báo giờ lúc ấy là 3g15 sáng, tôi nhớ lại những chi tiết trong giấc mơ và tự hỏi tại sao mình lại mơ thấy điều ấy. Tôi chợt nhớ lại một điều không hẳn là tương tự như thế nhưng có lẽ Đức Mẹ đã nhắc nhở tôi điều gì chăng?

Tôi nhớ lại một chuyện đã xảy ra với mình vào khoảng đầu năm 1998, thời gian ấy tôi thường ở nhà một mình vì mọi người đều bận công việc. Hôm ấy, khoảng 10 giờ sáng tôi nhận được phôn của em gái tôi gọi từ chợ Tân Bình về báo cho tôi hay:

-Chị Thủy ơi, nhà trẻ Anh Đào ở gần nhà mình bị cháy rồi! Chị lo chạy đồ đạc đi!
Tôi bật cười, bảo nó:

-Trời ơi, thân tao còn lo chưa xong mà còn kêu tao chạy đồ đạc nữa!


Lúc ấy tôi cho rằng nhà trẻ đó cách xa nhà mình nên chẳng đáng lo, tôi bảo đứa em gái:

-Ui, nó cách nhà mình xa , không sao đâu!

Một bà chị tôi đang buôn bán ở ngoài chợ Tân Bình cũng phôn về báo tin ấy. Chị cảm thấy khó xử vì không thể bỏ hàng đó mà về. Tôi đã trấn an chị ấy là chẳng có gì đáng lo ngại. Thế nhưng khi gác điện thoại xong, tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi sợ hãi ghê gớm, nghĩ bụng nếu như đám cháy ấy người ta không cứu được, nó cháy lan đến đây thì sao? Tôi đi ra sân trước nghe ngóng rồi lại đi vào sân sau, tim đập thình thịch và bắt đầu nghĩ cách nào để thoát thân nếu điều ấy xảy ra. Nhà tôi lại nằm ở cuối một con hẻm cụt, nghĩ tới nghĩ lui, tôi thấy mình không có khả năng chạy một mình, vì lúc ấy tôi chưa thích nghi với đời sống của một người mù cho lắm. Nghĩ đến hàng xóm, nhà nào nhà nấy đóng cửa kín bưng gọi cũng chẳng ai để ý. Tôi lên sân thượng nghe ngóng, chung quanh vẫn bình thường chẳng có gì nhốn nháo cả, vậy mà sao tim tôi đập dữ dội? Tôi cứ nghĩ đến cảnh cháy nhà lan tới đây. . . cảm thấy nỗi lo sợ và bất lực dâng lên khủng khiếp.

Tôi còn nhớ như in lúc ấy mình đang đứng trên sân thượng, nắng chang chang làm rát cả mặt, nỗi lo sợ khiến đôi chân run lẩy bẩy; không biết làm gì hơn, tôi thầm thĩ:
"- Mẹ ơi, xin Mẹ cứu con, con bất lực và cô đơn lắm!"
Vừa mới dứt câu tôi chợt nhận thấy những giọt nước mưa rơi trên mặt, trên hai cánh tay mình. Một cơn mưa rào tuy không lớn lắm nhưng nó đủ để tôi cảm thấy một điều rất hệ trọng. Tôi vừa cầu xin thì Đức Mẹ đã can thiệp rồi vì trời mưa thì đám cháy sẽ được dập tắt. Ngay lúc ấy, tôi lại nhận được điện thoại:

-Chị Thủy ơi, nhà trẻ hết cháy rồi!

Nếu như tôi nói đấy là một phép lạ mà Đức Mẹ đã làm cho tôi có lẽ nhiều người sẽ cho rằng tôi nói chuyện vớ vẩn. Nhưng tôi khẳng định chắc chắn Đức Mẹ đã luôn ở bên tôi và nghe lời cầu xin của tôi. Tôi tin chắc một điều cuộc đời tôi cho đến hôm nay, phép lạ đã xảy ra hàng ngày đối với tôi. Vì thế sau giấc mơ vừa rồi, tôi nhất định phải viết ra phép lạ Đức Mẹ đã làm cho tôi 10 năm về trước.

24/10/2008
Vũ Thủy
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
dangngocan
Quản trị viên
Quản trị viên


 

Ngày tham gia: 13/11/2007
Bài gửi: 2466
Số lần cám ơn: 1
Được cám ơn 295 lần trong 287 bài viết

Bài gửigửi: 31.05.2010    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHÌN TRỜI

(Suy niệm về ý nghĩa Chúa lên trời)
Trần Mỹ Duyệt


Ðối với tôi, những giây phút một mình lặng nhìn lên bầu trời vào một buổi tối thanh quang ở khu vườn sau nhà, hoặc trên một bãi biển vào một đêm trăng rằm mang lại những giây phút trầm lắng và suy nghĩ rất đặc biệt. Nó cho tôi một cảm giác hết sức đặc biệt; và đặc biệt hơn cả, là tâm trí tôi bị choán ngợp bởi muôn vì tinh tú đang lấp lánh trên nơi cao thẳm mà tầm nhìn của tôi không bao giờ vươn tới được. Và suy nghĩ của tôi bị khựng lại với những hiểu biết giới hạn của mình để rồi phải đi đến kết luận là: Ôi mầu nhiệm thay, công cuộc của tay Chúa. Trời đất bao la đang rao truyền công trình sáng tạo và sự hiện diện của Ngài.

Thật vậy, mỗi lần suy nghĩ đến đây, tôi lại thấy tư tưởng của Pascal rất đúng và rất chí lý: “Khoa học nông cạn làm ta xa Chúa, và khoa học tinh thông làm cho ta gần Chúa”. Cái nông cạn của lý trí và cái tinh thông của Ðức Tin chính là điều có thể khiến con người đi tới sự từ chối, hoặc khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa quanh vũ trụ bao la do tay Ngài sáng tạo.

Cho đến hôm nay, khi khoa thiên văn học với những viễn vọng kính tôn tân như Viễn Vọng Kính Hubble được phóng lên quỹ đạo trái đất cách xa 360 dặm vào năm 1990, đang cho thấy con người và trí khôn con người không là chi trước vũ trụ bao la, vỹ đại xem như vô tận này. Và lời Thánh Kinh được trích dẫn trong Thánh Lễ Thăng Thiên cần được đem áp dụng vào tầm nhìn thực tế này, để giúp chúng ta đưa tầm nhìn của mình vào với cái nhìn của Ðức Tin. Thánh Luca ghi lại biến cố thăng thiên với những dòng đơn sơ: “Trong khi Ngài chúc lành cho họ, Ngài rời khỏi họ và được đưa về trời” (Luca 24:51). Về trời để làm gì?

Nói theo văn chương nhân loại, thì Chúa Giêsu sau khi đã hoàn tất sứ mạng được Chúa Cha trao phó ở trần gian, và với thời gian 33 năm xa nhà, hôm nay Ngài hồi hương với chiến thắng phục sinh của mình: “Ngài được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (Máccô 16:19).

Lên trời. Ngự bên hữu Thiên Chúa. Ðó cũng là giấc mơ của tôi và của mọi người thiện tâm. Nhưng trời là gì? Mấy ai đã lên trời để biết được sinh hoạt ở trên đó như thế nào. Và mấy ai đã lên trời để biết được nó như thế nào? Có chăng, theo quan niệm chung thì trời là một nơi mà ở đó con người mới thực sự được hạnh phúc, được trút bỏ mọi tục lụy, đau khổ, buồn rầu, và nhất là sự chết.

Nơi thiên cung cao thẳm ấy, nơi mà mọi đau khổ, khóc lóc, bệnh tật, chiến tranh, tàn ác, khủng bố không hề bén bảng đến được. Nơi mà thanh bình, công bằng, và mọi ước muốn chính đáng tốt lành của con người đều được toại nguyện. Nơi nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Cũng từ nơi cao xanh ấy, điều mà những ước mơ của con người nơi cõi đời này không thể hoàn chỉnh, thì ở đó nó sẽ trở thành hiện thực, và còn hơn thế nữa. Thánh Phaolô đã viết cho giáo đoàn Côrinthô những dòng này: “Ðiều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng trí không hề tưởng tượng, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.” (1 Cor 2:9).

Thánh Gioan, với đôi mắt phượng hoàng huyền nhiệm đã nhìn trời với nét đẹp lộng lẫy qua sức cuốn hút của nó bằng một tầm nhìn tâm linh: “Và tôi là Gioan nhìn thấy thành thánh, Giêrusalem mới từ trời nơi Thiên Chúa mà xuống, được trang bị như tân nương ra đón tân lang của mình.” (Khải Huyền 21:2)


Chúa Giêsu lên trời. Còn tôi đứng nhìn trời. Hình ảnh được cất nhắc lên cao của Ngài nhắc tôi về những ý nghĩa cao thượng, trong sáng, và thánh thiện. Nó đem tâm hồn tôi, cuộc sống tôi lên cao thoát khỏi vòng tục lụy và những ràng buộc của thế tục. Nó cũng nhắc nhở tôi về cùng đích của cuộc đời khi mà tôi chấm dứt cái sứ mạng được trao phó cũng như Ngài đã chấm dứt sứ mạng của Ngài.


Giáo Hội khi suy ngắm về mầu nhiệm Chúa về trời đã dậy con cái mình: “Hãy suy ngắm những sự trên trời”. Suy ngắm những sự trên trời là nhìn vào con người vật chất chóng qua để đưa rước tâm hồn vào với lối sống của con cái Chúa. Là suy ngắm về số phận đời đời của mình.

Nhìn trời. Có bao giờ bạn dành cho mình một vài giây phút thanh vắng để cho tầm nhìn của bạn vươn cao khỏi vật chất và cuộc sống tạm bợ đời này không? Nếu chưa, thì bạn hãy thử đi. Tầm nhìn bạn sẽ cao hơn và tâm hồn bạn sẽ thanh thản hơn, và bạn sẽ không bị chôn bám vào cái thế giới hư ảo chóng qua và cuộc sống tạm bợ này: “Thứ Năm thì ngắm Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.”

Trần Mỹ Duyệt



THIÊN CHÚA CÓ PHẢI LÀ MỘT GIẢ THIẾT KHÔNG?

(Is God a Hypothesis?)
Trần Hữu Thuần dịch


Người vô thần, đơn thuần bằng cách tiếp cận với thực tế, xem ra lạc lỏng cách xấu hổ với cuộc sống đầy tưởng tượng của lân bang mình.
—Sam Harris

Chỉ những ai cảm thấy … hoàn toàn khách quan nhất với việc đánh giá thực tế, có quyền lực nhất về các tưởng tượng không ý thức sâu xa.
—Robert Bellah

Thành một người vô thần không phải luôn luôn là dễ dàng, cách riêng tại Hoa kỳ. Không nghi ngờ gì cả, người vô thần bị kỳ thị không ngay chính, và mỗi trường hợp của ghét bỏ mà tín hữu Kitô, Do thái, hoặc Hồi giáo hướng đến họ chỉ đưa họ sâu thêm vào trong phạm vi chắc chắn của riêng họ. Cùng với đồng bọn những người không tin, họ tìm thấy sự khuyến khích qua lại để tiếp tục cuộc chiến đấu mất còn. Tập hợp của họ vẫn còn thưa thớt, nhưng giờ đây nhiều và đủ an toàn để cung ứng sự giảm nhẹ khỏi cảm giác bất hòa mà nhiều người vô thần trong quá khứ đã cảm thấy. Nhu cầu đồng bọn mạnh mẽ giữa những người không tin cũng như những người tin, và trang Web, blogs, sách, báo, và hội nghị cung cấp một hệ thống ngày càng phát triển để ủng hộ những người vô thần. Các người vô thần mới vẫn còn phóng đại ảnh hưởng văn hóa của họ, nhưng sự tiếp nhận phổ thông nồng nhiệt các sách của họ cho thấy một khu vực đáng kể những người nghi nan thường che dấu nổi nghi nan của họ. Nói chung, khu vực an toàn cho chủ thuyết chống hữu thần hình như đang được làm ấm dần lên. Trong thế giới khoa bảng, sự phổ thông của chủ thuyết thiên nhiên khoa học cung cấp một nơi cư ngụ trí thức ấm cúng cho những người vô thần mới và những kẻ nghi nan khác.

Chủ thuyết thiên nhiên khoa học, mà các giáo điều chính tôi đã liệt kê ở phần Dẫn nhập, giờ đây là một quan điểm chung trong những người trí thức. Owen Flanagan, một triết gia tại Đại học Duke, thậm chí còn đi xa trong việc nói rằng ơn gọi lý tưởng cho các triết gia khoa bảng ngày nay là làm cho thế giới thành an toàn với “chủ thuyết thiên nhiên,” qua đó ông muốn nói là chủ thuyết vô thần. Trong công việc của tôi, tôi đã gặp vô số triết gia khoa bảng, cũng như các học giả khác, những người chấp nhận lý tưởng của Flanagan. Trong hầu hết các trường hợp như vậy, căn bản trí tuệ cho chủ thuyết vô thần của họ là tuyên bố của chủ thuyết thiên nhiên khoa học rằng chỉ một mình khoa học có thể được tín nhiệm để đem tâm trí chúng ta tiếp xúc với thực tế.

Những gì điều này có nghĩa với các người vô thần hạng nhẹ của chúng ta là rằng nếu không có chứng cứ đánh giá được cách khoa học để ủng hộ niềm tin vào Thiên Chúa, thì theo nguyên tắc chủ thuyết vô thần là đúng. Chắc chắn họ đã nghe câu châm ngôn rằng vắng bóng chứng cứ về Thiên Chúa thì không phải là chứng cứ của sự vắng bóng, nhưng, nếu họ có, họ làm ngơ nó . Thêm vào việc thiếu “chứng cứ,” nói chung các người vô thần mới nhấn mạnh rằng còn có nền tảng luân lý cho việc từ khước niềm tin vào Thiên Chúa. Các lý do luân lý đó, diễn đạt trong sự giận dữ của họ về sự xấu xa của các tôn giáo qua các thời đại, có thể là khía cạnh hấp dẫn nhất của chủ thuyết vô thần của họ, nhưng tôi dành việc thảo luận về luân lý và đức tin cho các chương 6 và 8. Hiện thời, tôi muốn chỉ tập chú vào vấn đề “chứng cứ” mà thôi.
Xem thông tin cá nhân của thành viên gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
« Xem chủ đề trước | Xem chủ đề kế »
gửi bài mới Trả lời chủ đề này DIỄN ĐÀN GIÁO PHẬN VINH -> Truyện, ký, tiểu thuyết, Ä‘oản khúc... Chuyển đến trang Trang trước  1, 2, 3, 4, 5  Trang kế


 
Chuyển đến
 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
Bạn không được phép gởi kèm file trong diễn đàn
Bạn có thể download files trong diễn đàn


Copyright © 2013 GIAOPHANVINH.NET :: All rights reserved.
Email biên tập: vinhconggiao@gmail.com || Ban quản trị: quantri@giaophanvinh.net